Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2020

PHONG THỦY LÀ GÌ?

PHONG THỦY LÀ GÌ?

Phong Thuỷ là gì ? Trước hết ta hãy xem giải thích: "Từ Hải" viết: "Phong Thuỷ, còn gọi là Kham D. Một loại mê tín ở nước Trung Quốc cổ. Cho rằng hình thể, hướng gió, dòng chảy xung quanh nhà ở hoặc mồ mả, có thể đem đơn hoạ, phúc cho người ở hoặc cho người chôn. Công chỉ cách xem nhà ở, phần mộ"

"Từ Nguyên" viết: "Phong Thuỷ, chỉ địa thế, phương hướng đất nhà ở hoặc đất phần mộ. Thời xa, mê tín căn cứ vào đó để xem lành giữ, tốt xấu và nhân sự"

Mới đây, Trường Ðại học Ðông Nam Trung Quốc xuất bản quyển "Nguồn gốc Phong Thuỷ", giáo sư Phan Cốc Tây trong lời tựa viết: "Nội dung chính của Phong Thuỷ là một loại học vấn mà người ta dùng để sử lý và chọn lựa hoàn cảnh ăn ở, cung thất, chùa chiền, lăng mộ, thôn xóm, thành thử; lăng mộ thì gọi là âm trạch. Phong Thuỷ và hoàn cảnh ăn ở, ảnh hưởng chủ yếu trên ba mặt: Một, sự lựa chọn địa điểm, tức tìm một địa hình thỏa mãn cả hai mặt tâm lý và sinh lý; Hai, xử lý về mặt hình thái trong cách bố trí, bao gồm lợi dụng và cải tạo hoàn cảnh thiên nhiên, hướng nhà, vị trí, cao thấp to nhỏ, cửa ra vào, đường đi, nguồn cấp nước, thoát nước..v.v.., Ba, trên cơ sở nói trên, thêm vào một dấu hiệu, nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm lý tránh cái dữ, lấy cái lành cho con người".

Học viện Dân tộc Trung Nguyên xuất bản cuốn "Tìm hiểu sự lành giữ trong Phong Thuỷ nhà ở", tác giả trong "Lời nói đầu" viết: "Trong vốn kiến thức lâu đời của Trung quốc, có một môn học gọi là Kham D, thông thường gọi là Phong Thuỷ. Căn cứ vào kết quả nghiên cứu trong nhiều năm của tác giả, thì cái gọi là Phong thuỷ, nói theo ngôn ngữ hiện đại là "khoa học và mối quan hệ gữa từ trường trái đất và con người".Về nội dung, môn Phong thuỷ gồm hai phần, phần một là xem xét hình thái của núi, phần hai là xem xét phương và lý khí.

Chiêm Ngân hâm trong "Tri thức Văn Sử" số tháng 3 năm 1988 viết: "Cái gọi là Phong thuỷ, là tên thường gọi của thuật xem đất. Theo tập tục truyền thống của Trung Quốc, mỗi khi xây cất điều phải xem địa hình có được Phong Thuỷ hay không, sau đó mới chọn địa điểm thích hợp, tránh đất dữ".

Học gi Rosk Kowski khoa địa lí trường Ðại học NiuDi-Lân là một chuyên gia về nghiên cứu Phong Thuỷ, tác phẩm ông có "mối quan hệ Phong thuỷ giữa Văn hoá, thiên nhiên Triều Tiên", những năm gần đây nghiên cứu về Phong thuỷ Trung Quốc, trong bài đăng trên tạp chí "Nghiên cứu lịch sử khoa học tự nhiên" tháng 1 năm 1989, viết: "Phong Thuỷ là một hêj thống đánh giá cảnh quan nhằm tìm một địa điểm tốt lành cho công trình kiến trúc. Nó là nghệ thuật lựa chọn địa điểm và bố cục đía lý của Trung Quốc cổ đại, không thể căn cứ vào khái niệm của phương Tây mà nói một cách đơn giản rằng là mê tín hay khoa học...Phong thuỷ Trung Quốc được xây dựng trên ba cơ sở: (1) địa điểm này có lợi cho xây nhà hoặc xây phần mộ so với các địa điểm khác. (2) Ðịa điểm tốt lành chỉ có thể căn cứ vào những nguyên tắc Phong Thuỷ thông qua việc khảo sát địa điểm ấy mà lựa chọn. (3) Một khi đã có một địa điểm như thế, thì tổ tiên và con cháu sống hoặc mai táng ở địa điểm ấy, sẽ được hưởng một sự tốt lành do địa điểm ấy mang lại".

Người nghiên cứu về Phong Thuỷ, ở Trung Quốc cũng như ở nước ngoài rất ít. Các tài liệu đã dẫn ở trên có thể đại diện cho các quan điểm chủ yếu ở Trung quốc và nước ngoài. Ðại để có ba phái, người thì cho là mê tín, người thì bảo đó là học vấn, người thì nói đó là hệ thống đánh giá cảnh quan.

Chúng tôi cho rằng, Phong Thuỷ là một hiện tượng văn hoá, một loại thuật số chọn lành tránh dữ, một dân tộc lưu truyền rộng rãi, một loại học vấn về hoàn cảnh và liên quan đến con người, một tổng hợp về lý luận và thực tiễn. Phong Thuỷ có thể chia làm hai phần lớn: âm trạch và dương trạch. Dương trạch là nơi người sống hoạt động, âm trạch là mộ huyệt của người chêt. Lí luận về phong Thuỷ các trường phái hình thể và trường phái lí khí. Phái hình thể nặng về hình thể sông núi mà luận lành dữ. Phái lí khí lại nặng về âm dương, quái lí để luận lành dữ. hạt nhân của Phong Thuỷ là "sinh khí". Khái niệm của nó vô cùng phức tạp, đề cập đến long mạch, minh đường, huyệt vị, dòng chảy, phương hướng v.v…

Nó có rất nhiều điều kiêng cữ, rất cẩn thận với thời gian, phương vị, địa điểm. Học thuyết về âm trạch mang đậm màu sắc mê tín, đầu độc dân chúng rất nặng. Lí luận về dương trạch và thực tiễn, có tính hợp lí nhất định, có thể biến hủ lậu thành thần kỳ. Việc nghiên cứu Phong Thuỷ ở giai đoạn đầu, cần phải đi sâu thêm.

Phong Thuỷ mà nguời ta thường gọi trên thực tế bao gồm hai ý. Có khi chỉ địa hình tốt, phong cảnh tốt. Khi đi chơi trên sông Ly, người ta thuờng buột miệng khen : "Phong thuỷ đẹp". Có khi, phong thuỷ là để chỉ thuật phong thuỷ, tức là lí luận và thực tiễn Phong Thuỷ. Ví dụ, người ta nói ông này ông nọ giỏi Phong Thuỷ, ông Mỗ nghiên cứu Phong Thuỷ, ông Mỗ kiếm cơm bằng Phong Thuỷ.

Nghiêm túc mà nói, Phong Thuỷ khác với thuật phong thuỷ. Phong Thuỷ tồn tại khách quan. Thuật phong thuỷ là hoạt động chủ quan đối với khách quan. Bản thể của Phong Thuỷ là thiên nhiên, bản thể của thuật phong thuỷ là con người.

Vì thói quen, mọi người đã nhập làm một Phong Thuỷ với thuật phong thuỷ, thì ta cũng không cần tách bạch ra. Có điều, chú ý xem người ta khi bàn về Phong "Thuỷ là nói khách quan hay chủ quan, để hiểu người ta nói theo nghĩa nào.
Phong Thuỷ là một thuật ngữ đã được xác định. Quách Phác đời Tấn là người đầu tiên giải thích. Quách Phác trong "Táng kinh", viết: "Táng(chôn) là đón sinh khí. Khi gặp phong (gió) tất tán, gặp nước ngăn lại tất dữơng, vì vậy gọi là Phong Thuỷ. "Vậy đón là đón thế nào? Tụ như thế nào? Thế nào là Phong Thế nào là Thuỷ?" Quách Phác không bàn tiếp.
Phong, là hiện tượng không khí chuyển động. Thuỷ, là dòng nước. Khí, tức là nơi địa khí (khí đất). Sinh khí, tức là địa khí có sinh cư (sức sống). Ðón sinh khí, là tìm kiếm hoặc lợi dụng địa khí có sinh cư (sức sống). Phong Thuỷ là môn thuật số đón nhận sinh khí.
Phạm nghi Tân người đời Thanh, chú giải "Táng kinh" của Quách Phác viết: "Không có nước thì gió đến mà khí tán, có nước thì khí dưỡng mà không có gió, do vậy hai chữ Phong Thuỷ là quan trọng nhất trong môn địa học, mà trong đó đất mà có nước là tốt nhất, Ðất mà tàng phong (có gió ẩn nấp) thì kém hơn". Như vậy là nói vấn đề then chốt của xem đất là vì că nước mà tụ khí, nếu không có nước, hễ gió thổi là khí tan đi. Chỉ cần có nước, khí sẽ tụ lại, dù gió cũng không thổi khí đi. Ðất mà có nước là tốt nhất, đất tránh được gió thì kém hơn.
Vì vậy, các thầy Phong Thuỷ xưa nay, bao giờ cũng bắt đầu tỏa long mạch, long mạch là khí của đất, khí do nước dẫn mà đón, khí do nước cản mà bị ngăn lại, khí tụ lại, không có gió làm tan ra. Có sinh khí, người chôn ở đó liền có phúc ầm.
Ngày xa, dân gian dùng rất phổ biến cái tơ Phong Thuỷ, còn quan lại thì không hẳn như thế. Trình hoà đời Minh đi sứ Tây Dương, đi theo trên thuyền có viên quan làm công việc Phong Thuỷ. Hướng viên quan đó phụ trách quan sát gió và nước (Phong Thuỷ) khác với Phong Thuỷ ta vẫn hiểu. 

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2020

HÓA BÀ KHOA(KHOA CÚNG MỤ)


HÓA BÀ KHOA(KHOA CÚNG MỤ)
Hoa lâm khai hách dịch
Đăng quang biến mãn diên
Hương hoa cung chúc đảo
Lục lục hóa bà tiền
Nguyện thùy từ mẫn niệm
Anh hài bảo bình an
Thiết dĩ, pháp duyên phương khải, tín lễ sơ trần,vãng lai khủng thiệp ư đàn tràng. Khiết tịnh nghi bằng ư bí chú, mật trì thất biến thanh tịnh thập phương, tịnh uế chân ngôn cẩn đượng cẩn đương trì tụng.
Nam mô tát đá nẫm tam điểu tam bồ đà câu chi nẫm án chiết lệ chủ lệ chuẩn đề sa bà ha ( 3 lần)
Án bắc đế tra thiên thần na la địa tra sa hạ (7 lần).
Phục đĩ; tam thiên chi thượng duy đạo độc tôn, vạn pháp chi trung, thiêu hương vi chủ. Nhất lô tài khởi, thánh chúng giao tri, dĩ kim phần hương kiền thành cúng dàng.
Tam thập lục Hóa Bà thần quân,Tam Thiên Thượng Thánh thập cực cao chân, tam cung hoàng thái mẫu, thất thập nhị cung tiên nữ đàn nương cập giáng thai, kết thai, hộ thai. Hộ sản, hộ nhũ bộ, hộ tẩy trạt, hộ phòng chư phu nhân, nhị thập tứ khí hóa bà, thập nhị huê chi hóa bà, nhất thiết chư chúng. Trượng thử bảo hương phổ đồng cúng dàng.
Tư thần cẩn tấu vì Việt Nam quốc; …. Tỉnh; … huyện .. Xã; …thôn; y vu gia xứ.
Tín chủ:
Sinh hoạch hoa chi; ….niên, .. Nguyệt, ... Nhật, .. Thời, đắc sinh ... Tử, danh vi: ....
Giải hạn kỳ an, tư bằng thiết lập giải trừ hình xung hoa chi quan sát, hộ mệnh pháp đàn nhất duyên. Cụ trần bạc lễ túc phụng cao chân, đông hoa thanh bạ, kỷ tích thiện chi công huân. Nam cực chu thư, chú trường sinh chi thọ toán, giải trừ quan sát, bảo hựu bình an, bách bệnh tống trừ, chư tai tiêu diệt, tín chủ kiền thành thượng hương phụng thỉnh.
Nhất tâm phụng thỉnh:
Bà Cả Thiên Vương, Bà Hai Thiên Vương, Bà Ba Thiên Vương, Thập Nhị Thời Bà, giáng lâm hoa tọa, nhang hoa thỉnh.
Nhất tâm phụng thỉnh
Thập Nhị Hóa Bà, Cửu Thiên Đô Tiên Thánh Bà, Tam Giới Lục Cung Hoàng Hậu, Thái Mẫu Chân Tiên, Nhất Thiết Hoa Chúa giáng lâm hoa tọa, nhang hoa thỉnh.

Nhất tâm phụng thỉnh:
Thiên Bà, Địa Bà, Thập Nhị Thời Bà, Đầu Bà, Mục Bà, Thủ Túc Bà, Tứ Chi, Bát Mạch, Ngũ Tạng, Ngũ Phủ, Nhị Thập Tứ Tiết, Liệt Vị Thánh Bà, hộ trì hài tử giáng lâm hoa tọa; nhang hoa thỉnh.
Chí tâm quy mệnh lễ thỉnh Tam Thập Lục Hóa Bà Thần Vương, Tam Thanh Thượng Thánh Thập Cực Cao Chân. Tam Cung Hoàng Thái Mẫu. Thất Thập Nhị Cung Tiên Bà.
Cẩn Thỉnh Hoa Gia Phán Quan. Lý Gia, Chu Gia Phán Quan, Ngũ Phương Ngũ Đế Trị Bệnh Phán Quan.
Cẩn Thỉnh Bà Cả Thiên Vương, Bà Hai Thiên Vương, Bà Ba Thiên Vương. Thập Nhị Thiên Tiên Bà. Thiên Đô Tiên Nữ Thánh Bà.
Phụng Thỉnh Ngũ Phương Ngũ Đế Thiên Thánh Bà. Hộ Thai Thần Quân, Địa Thánh Bà, Nhân Thánh Bà, Thủy Thánh Bà. Thần Thánh Bà, Thổ Thánh Bà. Thiên Hoàng Bà, Dưỡng Thai Phu Nhân. Địa Thánh Bà, Tẩy Trạc Phu Nhân. Nhân Thánh Bà, Nhũ Bộ Thai Phu Nhân, Thủy Thánh Bà, Tẩy Diện Phu Nhân Thổ Thánh Bà, Thủ Thai Phu Nhân, Hoa Vương Phụ Mẫu, Hoa Gia Phụ Mẫu, Bào Thai Phụ Mẫu.
Phụng thỉnh
Giáp Tý Vương Văn Lang Thánh Mẫu.
Giáp Tuất Độ Giang Ba Thánh Mẫu.
Giáp Thân Quận Văn Trường Thánh Mẫu.
Giáp Ngọ Vệ Thượng Khanh Thánh Mẫu,
Giáp Thìn Mãnh Phi Khanh Thánh Mẫu,
Giáp Dần Minh Văn Chương Thánh Mẫu.
Lục Nhâm Thánh Mẫu.
Thượng Nguyên Lập Thân Thiên Thánh Bà.
Trung Nguyên Kiến Thể Thiên Thánh Bà.
Hạ Nguyên An Hình Thiên Thánh Bà.
Tốn Cung Tứ Lục Nhân Thánh Bà,
Khôn Cung Nhị Hắc Địa Thánh Bà,
Trung Cung Ngũ Hoàng An Thai Thánh Bà.
Càn Cung Lục Bạch Thiên Thánh Bà.
Ly Cung Cửu Tử Hỏa Thánh Bà
Thiên Thân Hộ Thai Đồng Thánh Nương Bà.
Tạo Nhãn Thiên Nữ Thánh Nương Bà.
Đoài Cung Thất Xích Kim Thánh Bà
Cấn Cung Bát Bạch Thần Thánh Bà
Kiến Thiệt Thiên Nữ Thánh Nương Bà
Kiến Nhĩ Thiên Nữ Thánh Nương Bà
Kiến Tỵ Thiên Nữ Thánh Nương Bà
Kiến My Thiên Nữ Thánh Nương Bà
Giám Ý Thiên Nữ Thanh Nướng Bà
Giám Can Thiên Nữ Thánh Nương Bà
Giám Phế Thiên Nữ Thánh Nương Bà
Giám Thận Thiên Nữ Thánh Nương Bà
Giám Tỳ Thiên Nữ Thánh Nương Bà
Giám Xuân Xuân Đáo Hộ Hồn Bà.
Giám Hạ Hạ Đáo Dưỡng Khí Bà
Giám Thu Thu Đáo Thị Hồn Bà
Giám Đông Đông Đáo Huyết Thông Bà
Chuyển Nam Nữ Quyên Tâm Bà
Biến Nam Biến Nữ Từ Thiện Bà
Hóa Ngũ Hành Lục Giáp Linh Thánh Bà
Giám Hiếu Sinh Tâm Thập Nhị Hóa Bà
Duy nguyện, thánh bà giáng lâm hoa tọa. Hương hoa thỉnh.
Nhất tâm phụng thỉnh:
Kim niên, kim nguyệt, kim nhật, kim thời, hư không quá vãng thần tiên tứ trực công tào, trì phan đồng tử dẫn đạo tướng quan, Kim niên đương cai thái tuế .... Vương hành Khiến chí đức tôn thần, .... phán quan, .... hành binh, kim niên chính chiếu .... thái tuế tinh quân. ..... niên bảo mệnh chư vị thần thánh. bản cảnh thành hoàng, bản gia Thổ Địa phúc đức chính thần, định phúc táo quân, hương hỏa hữu cảm nhất thiêt minh thần môn thừa hộ úy tỉnh táo long quan giám trai sứ giả kiên lao địa thần.
Duy nguyện, bất sả uy quang lai giáng đàn tràng thụ tư cúng dàng.
Nhất tâm phụng thỉnh:
Gia tiên cao cao tổ khảo, cao cao tổ tỷ, thúc bá đệ huynh, cô di tỷ muội nhất thiết liệt vị chân linh. Cung thỉnh: ... môn đường thượng lịch đại gia tiên, .... môn đường thượng lịch đại gia tiên. Duy nguyện, bảo hộ tử tôn lai giáng đàn tràng thụ tư cúng dàng.
Chư thánh bà hách hách nỗ lực cứu quần sinh giám thử vi thành ý kỳ tốc giáng uy linh.
Bà cả thiên vương thủ hộ phòng
Khu trừ quỷ chúng nhất thời không
Đồng nam đồng nữ thân cung tráng
Chi tiết câu vinh bách mạch thông
Bà hai thiên đế thủ trung ương
Quan sát tòng tư khứ viễn phương
Nhược hữu hung ương giai tẩu tán
Cung kỳ hài tử mệnh diên trường

Bà ba thiên vương thủ hộ thân
Mặc phù hài tử dị thành nhân
Khu trục tà ma quy hải ngoại
Hài đồng quân lại thái bình xuân
Càn thát bà vương tịnh quỷ vương
Ngọc hoàng sắc hạ tống tha phương
Tòng kim hướng vật chư can phạm
Vô tri đồng tử báo an khang
Hướng lai triệu thỉnh ký mộc quang các tự chân gia giai hàm y liệt toại. Giáo hữu an toa chân ngôn cẩn đương trì tụng.
Thánh bà tòng không lai giáng hạ
Nguyện kỳ đan khổn phó hương duyên
Tài văn tuyên diễn diệu chân ngôn
Giáng phó pháp đàn an vị tọa
Án tra ma sa hạ (7 biến).
Ân cần phụng thỉnh chư vị thánh bà, chư vị thần linh, thổ địa... Thị nhật (dạ) kim thời quang giáng hương duyên chứng minh công đức. Dĩ kim tín chủ ..... Kiền cụ hương, hoa, đăng, trà, quả, thực lý đương phụng hiến. Giáo hữu biến thực biến thủy chân ngôn cẩn đương trì tụng.
BIẾN THỰC CHÂN NGÔN
Nam mô tát phạ đát tha nga, đá phạ rô chỉ đế án tam bạt la tam bạt la hồng (3 biến).
CAM LỘ THỦY CHÂN NGÔN
Nam mô tô rô bà ra , đát tha nga đá ra, đát diệt tha. Án tô rô tô ra, bát ra tô rô sa bà ha (3 biến).
PHẢ CÚNG DÀNG CHÂN NGÔN
Án nga nga nẵng tam bà phạ phệt nhật la hộc (3 biến).
Nam mô phổ cúng dàng bồ tát ma ha tát (3 biến).
(pháp sự cầm mâm hoa, múa, đọc, rắc hoa)
Tán hương hoa lạc mãn hương diên
Thánh Bà tiền cúng dàng đồng căn sinh dị khí. Tám hoa lâm,
Phúc úc canh phân phương mãn hương diên.
Thánh Bà tiền cúng dàng, trản trản hoàng kim ngạc tán hoa lâm.
Phân phân bạch ngọc bàn mãn hương duyên. Thánh bà tiền cúng dàng. Tịnh nữ ngâm tiên khúc, tán hoa lâm
Đồng nhân xướng thiện tai mãn hương diên. Thánh bà tiền cúng dàng. Tam tuần kinh phụng hiến. Tán hoa lâm
Toái cẩm sái vân đoan, mãn hương diên. Bộ hạ tiền cúng dàng. Đạm bạc thử hương duyên, phân phương mãn tọa tiền.
Duy nguyện, hâm nạp thụ phó cảm ứng tự nhiên thiên trù thực. Vô lượng diệc vô biên. Tùy niệm giai xung túc. Phổ nguyện đồng cúng dàng. Đại thánh giái trừ hạn ách tiêu tai, tiêu tai diên thọ thiên tôn. kim thời lễ tạ, sở hữu sớ văn cần đương tuyên bạch.
Khế thủ chúc kiền điều ngự chủ
kim thân trượng lục độc xưng tôn
Diện như mãn nguyện bạch hào quang
giám sát tư thời kiền đảo ý
kim thời, kim thời khải thỉnh
hữu sớ tuyên đương hạnh đối uy quang cung duy từ thính cẩ đương tuyên bạch.
tuyên sớ.
Thượng lai văn sớ tuyên đọc dĩ chu sớ đối đàn tràng dụng bằng hỏa hóa.
Nam Mô Đăng Vân Lộ Bồ Tát Ma Ha Tát (3 Lần)
BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA TÂM KINH
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thân Bát Nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách.
Xá Lợi Tử ! Sắc bất dị không; không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thụ hưởng hành thức diệc phục như thị.
Xá Lợi Tử ! Thị chư pháp không tướng, bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm. Thị cố không trung vố sắc, vô thụ, tưởng, hành thức; vô nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô, khổ, tập, diệt, đạo; vô chí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố. Bồ Đề tát Đỏa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quải ngại, vô quải ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo , mộng tưởng cứu cánh niết bàn. Tam Thế Chư Phật, y Bat Nhã Ba la mật đa số, đắc a nậu đa la ta niệu tam bồ đề.
Cố tri bát nhã ba ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại thần chú, thi đai minh chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ chân thật bất hư, tức thuyết chú viết:
yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha. ma ha bát nhã ba la mật đa. (3 lần).
Pháp sư, sái chuông mõ, tín chủ chặt tiền cho vào mâm gạo
Phục dĩ, huyền ư hữu tượng cần tất ứng, nhi đảo tất thông, thần hóa vô tư, hóa giải quan sát nhi tức tiễn. ngưỡng mông chi thần đức, liệt vị linh quan, các sinh hoan hỷ chi tâm, công bá từ bi chi niệm, tiền giải tố khổn, bất sả thiện công, sủ hung ác dĩ tiền tiêu, tỷ trinh tường nhi biến tập, tín chủ, hài nhi đẳng. phàm tâm dị mộng ư thánh tâm nhân. đạo năng thông thần đạo. dục tiêm linh chúc tất đồn. đầu từ phục nguyện giải trừ quan sát, hung tai. triệu thỉnh nghinh phúc lộc chi vân, thái tòng tư mệnh vị duyên trường tự thị, gia môn hanh thái, phàm chư hạn ách, kim đối đàn tiền kim đương thỉnh giải.
Hoặc ngộ tam tai chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ tứ sát chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ ngũ mộ chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ thái tuế chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ lục hại chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ hình xung chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ thất thương chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ cấp cước chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ ngũ quỷ chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ tứ trụ chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ lôi công chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ đoản mệnh chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ quỷ môn chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ kim tỏa chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ thiên cẩu chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ thiết xà chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ kim kê chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ thiên la chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ địa võng chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ táo quân chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ diêm vương chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ đoạn kiều chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ thâm thủy chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ lạc tỉnh chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ tứ thời chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ tứ quý chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ thiên điếu chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ hòa thượng chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ bách nhật chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ bạch hổ chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ thang hỏa chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ dục bồn chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ thiên nhật chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ tướng quân chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ dạ đề chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Hoặc ngộ hạ tình chi tai kim thời phụng thỉnh giải.
Nhất thiết quan sát hung ương kim đương giải kết, khai giải ngũ thần ôn. phù chú chuyển pháp luân, âm dương ly cách biệt, thủy hỏa đoạn càn khôn, gia nội đồng khang thái, nam nữ thọ trường tồn.
Tiêu Tai Giải ách thiên tôn.
Duyên Thọ ích toán thiên tôn
Đại đạo bất khả tư nghì công đức.
Pháp sự cầm mâm gạo tiền xảy 3 lần rồi đọc bài kệ giải kết:
Giải kết giải kết giải oan kết
Giải liễu đa sinh oan trái nghiệp
Tẩy tâm địch lư phát kiền thành
kim đối án tiền cầu giải kết
Giải kết giảii kết giải oan kết
Giải liễu tiền sinh oan hòa nghiệp
bách thiên vạn kiếp giải oán thù
Vô lượng vô biến đắc giải thoát
Án sĩ lâm bộ lâm diệt
Ngô kim vị nhữ giải kim tra
án cường trung cường cát trung cát
ma ha hội lý nan thù luật
nhât thiết oan gia ly ngã thân
ma ha bát nhã ba la mật
nam Mô giải oan kết bồ tát ma ha tát (3 biến)
Đoạn lấy những đồng tiền mặt có chữ rồi đếm theo quy tắc : sinh - lão - bệnh - tử. nếu dư sinh lão thì được, nếu không thì phải chặt tiền lại. khi được sinh lão thì phải bỏ đồng tiền sinh lão đó vào giếng nước ăn. Số còn lại thì hắt ra ngã ba đường.
sau đó vào tụng hồi hướng:
Cúng hóa bà công đức thù thắng hạnh, vô biên thắng phúc giai hồi hướng. Phổ nguyện trầm mịch chư chúng sinh, tốc vãng vô lượng quang phật sái. Thập phương tam thế nhất thiết Phật, chư tôn bồ tát ma ha tát, ma ha bát nhã ba la mật, tứ sinh cửu hữu đồng đăng hoa tạng huyền môn bát nạn tam đồ cộng nhập tỳ lư tính hải.
nam mô Sa Bà thế giới tam giới đạo sư tứ sinh từ phụ nhân thiên giáo chủ thiên bách ức hóa thân bản sư hòa thượng thích ca mâu ni phật ( 3 lần).
Tự quy
tự quy y Phật đượng nguyện chúng sinh thệ giải đại đạo phát vô lượng tâm.
Tự quy y Pháp đương nguyện chúng sinh thâm nhập kinh tạng trí huệ như hải
tự quy y đượng nguyện chúng sinh thống lý đại chúng nhất thiết vô ngại.
hòa nam thánh chúng
nguyện dĩ thử công đức
phổ cập ư nhất thiết
ngã đãng dữ chúng sinh
giai cộng thành Phật đạo
Xướng: Trai chủ kiền thành tạ lễ hóa bà 4 bái.
Tiễn Đàn:
Đàn tràng dĩ tất phụng tống chư vị hóa bà cập chư Phật thánh hồi quy.
Tại Đông phương quy Đông phương
tại tây phương quy Tây phương
Tại nam phương quy nam phương
tại bắc phương quy bắc phương
tại trung ương quy trung ương
tại thiên thượng thăng thiên thượng
tại hạ địa hoàn địa linh
Thỉnh khứ lưu ân
thần khứ lưu phúc
Các xương thiên thu vạn vạn tuế.
nam Mô Đăng vân lô bồ tát ma ha tát.
tư thời đàn nghi cáo tất pháp sự chu viên, tượng đà sự thừa cận, phản ư tịch quang. Thánh cảnh long sa phượng liễn, tương huyên giá thiên cung.
Đại chúng chí thành khấu đầu tiễn biệt.
Hoàn khoa.



Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2020

21 phép tắc là phong thủy tốt nhất cho cuộc đời


21 phép tắc là phong thủy tốt nhất cho cuộc đời
Trên đời có muôn vàn triết lý khác nhau về mọi phương diện, mà phong thủy là một nhân tố quan trọng. Tuy nhiên có những phép tắc ẩn còn có tác dụng vượt trên cả phong thủy.
Dựa vào người khác thì vĩnh viễn không có thành tựu
Tục ngữ nói: “Dựa vào núi thì núi sẽ đổ, dựa vào cha mẹ thì cha mẹ sẽ già, dựa vào anh chị em thì anh chị em sẽ bỏ đi”. Con người chỉ có tìm sự trợ giúp từ chính bản thân mình. Trên đời này không có người nào có thể dựa vào được, ngay cả cha mẹ, anh chị em cũng không thể dựa được, chỉ có thể dựa vào chính mình.
Nếu bản thân mình không đứng dậy, chỉ mong chờ người khác cho mình chỗ dựa, ỷ lại vào người khác thì vĩnh viễn là người không có thành tựu gì.
Độ lượng quyết định độ cao
Cần nhớ rằng trong thiên hạ không có bữa trưa miễn phí. Hết thảy thành công đều phải dựa vào sự nỗ lực của bản thân. Khí phách, phong độ, tri thức, và tấm lòng của mỗi cá nhân là khác nhau. Bạn muốn thành công lớn, lập đại nghiệp thì phải bồi dưỡng cho mình độ lượng, giống như biển cả mênh mông. Hơn nữa còn phải bỏ ra nhiều thời gian để giúp mình trưởng thành, giảm thiểu thời gian hà khắc trách móc người khác, đố kỵ người khác.
Tận hưởng cô tịch
Khi đêm khuya thanh vắng, một mình chạy lên đỉnh núi cao hoặc đến bãi biển hoang vắng, vô cùng yên tĩnh, nước mắt rơi mà không biết tại sao. Đó không phải là bi thương mà là vui mừng. Đó là một sự thoải mái yên tĩnh vô cùng, tâm hồn mở rộng, bao nỗi thống khổ, phiền não trong tâm tự nhiên biến mất. Đó chính là cảnh tượng mà cổ nhân nói: “Núi vắng sau mưa đêm, tĩnh lặng tuyệt vô thanh”. Đó chính là tận hưởng cô tịch, không phải là thứ mà tiền tài có thể mua được.
Người thành đại sự ắt phải biến hóa
Những vĩ nhân trong lịch sử chính là người lãnh đạo trí tuệ hàng đầu, hiểu được diễn biến bước tiếp theo như thế nào liền lãnh đạo mọi người tiến bước, mãi mãi đứng ở hàng đầu đội tuyến.
Người hạng thứ hai là ứng biến, anh biến đổi tôi cũng biến đổi, ứng biến theo.
Người hạng thứ ba là sau khi người ta biến đổi rồi họ vẫn đứng nguyên chỗ cũ bất động.
Năng lượng của sinh mệnh đến từ Tĩnh, càng khó khăn gian nan càng cần phải chậm
Chúng ta thường nói, quy luật vũ trụ là thường hằng bất biến. Trong sinh mệnh con người thường quên mất tĩnh, hơn nữa lại dùng hết mọi động thái để tiêu hao bản thân mà không suy nghĩ nguồn năng lượng của mình đến từ đâu. Năng lượng của sinh mệnh sản sinh ra từ trong trạng thái tĩnh, từ trong cái không. Cũng chính là tại sao con người chúng ta bận rộn đến đêm thì phải đi ngủ. Bởi vì con người cần trạng thái tĩnh, đầu óc không nghỉ ngơi thì không được.
Có lúc xử lý sự việc phức tạp, khó khăn, nghĩ nát óc mà không tìm ra cách giải quyết. Khi đó nhất định trước tiên phải tĩnh tâm lại, không suy nghĩ gì nữa. Sau đó đột nhiên tư tưởng thông thoát, biết làm như thế này sẽ giải quyết được vấn đề. Đó chính là tác dụng của tĩnh. Nếu khi đó bạn không nghỉ ngơi, mà lại càng suy nghĩ nhiều hơn để tìm biện pháp, thế thì thường chẳng tìm ra lời giải mà càng khiến đầu óc căng thẳng, tất cả các dây thần kinh đều căng lên, cuối cùng không chết thì cũng bệnh.
Tu hành chân chính là tu trong cuộc sống
Chớ sợ gặp phải cảnh khốn cùng, nó có thể giúp bạn tôi luyện tâm tính, tăng trưởng trí tuệ. Tu hành chân chính là phải tu hành trong cuộc sống. Nếu bạn dung nạp tất cả, bao dung tất cả bằng tấm lòng rộng lớn thì không có việc gì là nghĩ không được thông. Bạn sẽ thấy tất cả mọi người đều là người tốt, tất cả sự việc đều là việc tốt, tất thảy cảnh ngộ đều là cảnh tốt.
Tâm thái tốt thì thế giới mới tốt đẹp
Gặp việc gì cũng chớ suy nghĩ cho mình, cần phải nghĩ cho người khác. Chỉ có bỏ được tự tư, tự lợi thì bạn mới có thể tự tại thoải mái được. Không nên cứ muốn thay đổi người khác, nhìn người khác không thuận mắt. Trước tiên hãy điều chỉnh tâm thái bản thân, tu tốt cái tâm của mình thì tất cả cảnh ngộ sẽ ‘cảnh tùy tâm chuyển’. Bạn đối đãi với người khác như thế nào thì người ta sẽ đối đãi với bạn như thế ấy. Thế nên không nên cứ trách Trời oán người, không nên cứ bới móc lỗi lầm khuyết điểm của người khác.
Đọc sách là để làm người, kết giao nhiều với bạn hữu ích
Người xưa nói, đọc sách là để ‘minh lý’. Minh lý chính là hiểu rõ đạo lý làm người. Kết giao nhiều với những người nhân cách thành thục, phẩm hạnh cao, đáng tin cậy, họ sẽ giúp bạn trưởng thành, khi nhất thời nguy cấp hoạn nạn thì cũng có thể nhờ cậy được. Giao tiếp nhiều với người già cũng có thể học được rất nhiều học vấn và kinh nghiệm.
Quên ân mình, nhớ ân người
Giúp đỡ người khác, cho người ta thuận lợi thì trong tâm không được ghi nhớ, cần phải vứt bỏ đi. Nhận được ân huệ của người ta thì nhất định phải mãi mãi ghi nhớ. Đó chính là “Thi ân đừng nhớ, thọ ân chớ quên”.
Làm người giữ bổn phận, biết đủ là giàu
Làm người, làm việc cần phải lưu lại dư địa, lưu lại không gian xoay xở. Việc có lợi, lợi ích thì chớ chiếm nhiều, chiếm nhiều sẽ có phiền nhiễu, đây chính là cái gọi là ‘người biết đủ thì giàu’. Cũng nên hiểu thế thời và hình thế, sau khi làm tròn bổn phận thì thuận theo mệnh Trời. Làm được như vậy thì hạnh phúc và an nhiên sẽ có trong tầm tay của bạn.
Tình cảm kết giao tốt nhất
Người xưa nói về kết giao bạn bè thì “quân tử chi giao đạm nhược thủy”, nghĩa là kết giao của người quân tử thì nhẹ nhàng thanh đạm như nước. Bạn bè tốt không phải là bạn rượu thịt, không phải ngày ngày qua lại cùng nhau, mà bình thường thì rất bình lặng thanh đạm. Nhưng nó cũng không phải là lãnh đạm vô tình. Khi bạn bè gặp khó khăn hoặc những việc như ốm đau bệnh tật, tai nạn họa hoạn thì họ liền đến. Bình thường thì không quá để tâm, có lẽ gặp nhau thì cũng chỉ một lời chào hỏi thôi, nhưng có chân tình.
Làm người khí độ lớn thì mới có ảnh hưởng lớn
Nếu chỉ chú ý đến mình có thu được lợi ích hay không, tiền tài đều bỏ vào trong túi mình, thế thì bạn không thể có bạn bè, hơn nữa giao tiếp xã hội sẽ ít, không có ‘bạn thực sự’. Nếu bạn lúc nào cũng quan tâm đến bạn bè, giải quyết những khó khăn cho người khác thì quan hệ xã hội rộng. Khi đó nếu bạn gặp khó khăn thì sẽ có nhiều bạn bè đến giúp đỡ.
Ý nghĩa đích thực của xử thế
Nên ghi nhớ câu này “Nghiêm khắc tự giác kỷ luật bản thân, khoan dung đối đãi người khác”. Đối với bản thân thì phải yêu cầu nghiêm khắc. Đối với lỗi lầm người khác thì khi trách họ nhất định không được nghiêm khắc như yêu cầu đối với mình. Làm được như vậy thì đối với cấp trên cũng tốt, đối với đồng nghiệp và cấp dưới cũng hòa hảo, oán hận sẽ tự nhiên ít đi.
Càng kêu nghèo thì càng nghèo
Làm người không nên từ sáng đến tối kêu than nghèo khó. Người kêu nghèo là tướng rất bần tiện. Người kêu nghèo là người không biết đủ, hoặc khi cần bố thí thì tiếc của không muốn bỏ tiền của ra nên kêu nghèo kể khổ. Kêu như thế này thì Thượng Thiên sẽ cấp từ trường nghèo cho họ, kết quả càng ngày càng nghèo hơn.
Người muốn phú quý thì trước tiên phải biết đủ. Biết đủ là một tướng thành tựu. Đối với bất kể sự tình nào cũng phải biết đủ, dần dần cuộc sống sẽ càng ngày càng phú quý.
Vì người khác chính là vì mình
Một người có Đạo chân chính sống trong xã hội này thường có những oan ức, thống khổ, những họ không kêu khổ với người khác, chỉ tự mình gánh vác. Ngoài ra còn giúp người khác, không vì mình, chỉ nghĩ vì người khác. Như thế thì Thượng Thiên sẽ không để họ chịu thiệt, dần dần hoàn cảnh của họ cũng tốt đẹp lên.
Phẩm hạnh tốt nhất là hiếu
Trên đời quả là có những bậc cha mẹ chưa làm tròn trách nhiệm, nhưng tu thân thì trước tiên phải thực hiện đạo hiếu. Thực hiện đạo hiếu không có nghĩa là mù quáng thuận theo. Làm tròn đạo hiếu còn phải có thể khéo léo cảm hóa được lỗi lầm của cha mẹ, đó mới là ý nghĩa sâu sắc đích thực của việc “suy nghĩ phụng sự cha mẹ không thể không thấu hiểu mẹ cha”.
Không có chí hướng sự nghiệp mới đáng sợ
Người trẻ tuổi cả đời không có sự nghiệp thì cũng không thành vấn đề, nhưng cả đời không có chí hướng sự nghiệp thì mới là vấn đề. Tuy có chí hướng sự nghiệp nhưng không nhất định đều có thể làm nên sự nghiệp, nhưng nếu không có chí hướng sự nghiệp thì giống như bài thi bị vứt vào sọt rác, người trẻ tuổi này dường như là phế thải rồi.
Khổ nạn là việc tốt
Trong lịch sử nhân loại, những người thành đại công, lập đại nghiệp, làm đại sự đều là từ trong gian khổ mà đứng lên. Người có thể từ trong gian khổ đứng lên thì mới hiểu được nhân tình thế thái.
Do đó đối với thành tựu của một cá nhân mà nói, có lúc tuổi trẻ chịu nhiều khổ một chút, chịu nhiều gian nan trắc trở một chút thì đó lại chính là việc tốt. Người thực sự thành đại công, lập đại nghiệp, làm đại sự nhất định có kinh nghiệm nhân sinh phong phú.
Quân tử không trách Trời oán người
Con người không nên ‘trách Trời oán người’, hãy tự hỏi mình, tìm ở chính mình rằng tại sao mình lại không đứng lên nổi? Tại sao mình không đạt được mục tiêu này? Là vấn đề học vấn, tu dưỡng, cách làm… đủ các nguyên nhân của bản thân. Trong đau đớn thất bại suy nghĩ về đau đớn thất bại, phản tỉnh suy nghĩ bản thân mình, tìm những lỗi lầm và những thiếu sót, tự hoàn thiện mình, không nên suy nghĩ trách Trời oán người. Nói theo quan niệm hiện đại, tâm lý trách Trời oán người này tuyệt đối không phải là tâm lý lành mạnh. Như thế mới là người quân tử.
Ít ba hoa, làm nhiều việc thực
Khổng Tử nói, người quân tử chân chính phải ít nói lời sáo rỗng, lời nói suông, cần làm nhiều sự việc thực sự. Cổ kim Đông Tây, tâm lý nhân loại đều giống nhau, phần lớn thích ba hoa khoa trương, rất ít người tập trung tâm sức, thời gian vào việc thực, thường có lý tưởng rất cao nhưng về hành động thực tế thì lại rất khó thực hiện được.
Cảnh giới cao nhất là bình thường
Học vấn càng cao thì tư tưởng thường càng phức tạp. Nếu có học vấn cao mà lại có thể trở thành người đơn giản thuần khiết, thế thì sẽ là người đệ nhất thiên hạ, từ cao minh quy về bình thường. Đây chính là điều mà Lão Tử nói “Đại trí nhược ngu”, hay như người xưa nói “Cao nhân bất lộ tướng”.
21 phép tắc ẩn được nói đến ở trên, nếu ai cũng nắm được hành được, thì đó chính là phong thủy tốt nhất cho cuộc đời rồi.
-St-

CHỌN ĐỊA SƯ


CHỌN ĐỊA SƯ
1.Phàm những kẻ cao đàm hoạt luận, thích khoe khoang chẳng giống mọi người, ấy là hạng tầm thường, chẳng khá tin họ. 
2.Dò xét thấy có lực, mang theo nhiều sách vờ, mở miệng xưng đạo nọ tông kia, nào hương hào thân sĩ, thân phú ông nọ quan lớn kia, vào ngõ sửa dáng đi ấy là kê tham lam hèn mọn, làm ra vẻ phong lưu, chẳng khá tin họ.
3. Phúc cựu mộ khi vừa táng đã thấy suy bại là người ngụy thuật, chẳng khá tin. 
4. Kẻ rằng có bí thư bí quyết, mở miệng xưng đạo nhân, ấy là người thiên kiến, chẳng nên tin.
5. Người dùng Địa sự việc chẳng xem xét tỉ mỉ, tâm kẻ này thô thiển tiểu nhân, chẳng nên tin họ.
6. Vừa đến đất đã mở La kinh xem phương vị, ấy là kẻ chẳng biết gì về thế Loan đầu, chỉ biết chút ít Lý khí, hạng người này chi là sơ học, cũng không dùng được. 
7. Đến nhà người làm người nhà chia rẽ, trách móc bày đặt, thích những việc không tốt, lễ mạo không đứng đắn, đàm thế sự luận chuyện gió trăng, mở miệng mắng người, người này khí chất chẳng ôn hòa, ấy là kẻ phàm phu thô xuẩn, chẳng nên tin.
8. Có kẻ quán thông sơn trung, cùng một bọn làm việc bất chính, dự sẵn đất Hồng hoàng, hoặc đất Ngũ sắc chôn trước trong đất. Hoặc đặt đá có hình kỳ dị như rùa, ba ba vào đất, lừa người lấy của, chủ nhân vội mừng, nên đưa giá cá lớn cùng ăn chia với nhau, lợi khẩu như tiếng nhạc êm dịu rót vào tai mọi người, ấy là bọn hiểm trá bất lương, chẳng khả tin.
9. Những kẻ mê rượu thịt, tham sắc đẹp thích ba hoa, chẳng có đạo hạnh, chằng làm được gì chẳng nên tin lời họ.
* Đã biết những chứng bệnh trên, tức là đã chọn được thầy hay. St


Vài Bí Quyết Tử Vi Ít Người Biết-Tiến Sĩ Đằng Sơn posted Oct 15, 2012, 8:56 PM by Joy Tuti


Vài Bí Quyết T Vi Ít Người Biết-Tiến Sĩ Đng Sơn
posted Oct 15, 2012, 8:56 PM by Joy Tuti

Sau sáu năm rưỡi ở Á Châu, người viết học hỏi được một số bí quyết tử vi mới lạ. Trong số tuần trước, số tuần này xin bàn đến hai cách "Thai Vượng Tướng Binh Đào Hồng" và "Linh Xương Đà Vũ" vì đây là hai cách độc đáo có liên quan mật thiết đến lá số của cựu phó tổng thống Hoa Kỳ Al Gore.
"Thai Vượng Tướng Binh Đào Hồng" không nhất thiết là dâm cách!
Người nghiên cứu tử vi không thể không biết đến vòng trường sinh, gồm 12 vị trí theo thứ tự như sau: "Trường Sinh (1), Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng (5), Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai (11), Dưỡng". Chú ý rằng nếu tính Trường Sinh là vị trí 1 thì Vượng (tức Đế Vượng) luôn luôn ở vị trí 5, và Thai luôn luôn xung chiếu Vượng ở vị trí 11. Đây là hai sao đầu tiên của cách "Thai Vượng Tướng Binh Đào Hồng". 
Trong tử vi vòng Trường Sinh có nghĩa là vòng Trường Sinh của ngũ hành cục; nhưng cần nhớ rằng ngũ hành cục chỉ là yếu tố "nhân" trong tam tài "thiên địa nhân". Muốn đầy đủ phải tính thêm hai tài còn lại là vòng Lộc Tồn (tức yếu tố thiên), và vòng Thái Tuế (tức yếu tố địa). Vòng Lộc Tồn gồm 12 sao theo thứ tự: Bác Sỹ (1, cùng cung với sao Lộc Tồn), Lực Sĩ, Thanh Long, Tiểu Hao, Tướng Quân (5), Tấu Thư, Phi Liêm, Hỉ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao, Phục Binh (11), Quan Phủ. Từ đó có thể thấy "Tướng Binh" chính là hai sao Vượng Thai của vòng Lộc Tồn. Vượng là thế mạnh. Kẻ ở thế mạnh dễ sinh sa đọa. Thai là hiểm họa của sự sa đọa chực chờ. Nên Vượng Thai ý nghĩa chính là cảnh bất ổn, dễ sinh tai họa đáng tiếc.
Đào Hồng là hai sao trong bộ tam minh. Đào Hoa là vị trí Mộc Dục của tam hợp địa. Hồng là yếu tố quân bình lại Thái Tuế, đại biểu tình cảm nhẹ nhàng. Đào Hồng trong tử vi đại biểu sắc (theo nghĩa sắc không của nhà phật).
Gom lại "Thai Vượng Tướng Binh Đào Hồng" là một cộng hưởng dễ sinh ra điều đáng tiếc liên quan đến "sắc". Vì thế thường ứng với họa Đào Hoa (gái bị dụ dỗ thất tiết, trai dính vào chuyện dâm đãng bất chính, vân vân... ) Thế nhưng cộng hưởng này đều do phụ tinh tạo thành. Phụ tinh không thể nào vượt qua chính tinh. Trong trường hợp Al Gore chính tinh quá mạnh (Thái Âm miếu không bị Tuần Triệt xâm phạm, lại hóa Quyền) thì làm sao sa ngã nổi? Do đó Thai Vượng Tướng Binh Đào Hồng chỉ như những đóa hoa bên lề cuộc sống mà thôi. 
"Linh Xương Đà Vũ hạn đáo đầu hà" nghĩa là thế nào?
Linh là sao Linh Tinh, thuộc Hỏa nhưng đới Kim.
Xương là sao Văn Xương (cùng cặp với Văn Khúc), ứng với văn học nghệ thuật, thuộc Kim.
Đà là sao Đà La (cùng cặp với Kình Dương), sát tinh thuộc Kim.
Vũ là sao Vũ Khúc, là vũ tinh rất bất lợi cho nhân tình, chính tinh thuộc kim. Tính sát của Vũ Khúc nổi tiếng với câu "Vũ Khúc vi Quả Tú", Vũ Khúc đại biểu sự cô độc.
Linh Đà là cách tốt, Vũ Xương cũng là cách tốt. Nhưng cộng cả bốn lại thì Kim nhiều quá. Theo thuyết Âm Dương cái gì thái quá cũng đều xấu cả, nói gì đến kim là yếu tố sát. Vì thế "Linh Xương Đà Vũ" là cách xấu có tính sát. Nhưng Linh Xương Đà Vũ không phải là hung cách, do đó mới luận là gặp cảnh quá bất thuận, chỉ có tự sát mới giải quyết được mà thôi. Kim sinh thủy nên ví như tính kim quá nặng, phải gieo mình tự tử dưới nước (thủy) mới hợp lẽ âm dương.
Linh Xương Đà Vũ tóm lại là cách xấu. Gặp cộng hưởng này là chắc chắn bị cảnh bất xứng ý!
-------------------------------------------------

NGŨ HÀNH NẠP ÂM
Ngày xưa thời gian được ghi chép bằng cách ghép tên của 10 thìên Can va 12 Địa Chi, Can Dương thì ghép với Chi Dương, Can Âm thì ghép với Chi Âm, và với cách ghép như vậy thì ta sẽ có 60 tên khác nhau. Năm tháng ngày giờ đều có hành của nó, và hành đó ngũ tóm tắt trên một bảng gọi là Lục Thập Hỏa Giáp. Cứ hai năm có cùng một hành, nhưng khác nhau về yếu tố Âm Dương, nghĩa là một năm Âm và một năm Dương có cùng một hành. Khi Can va Chi phối hợp với nhau thì một thứ ngũ hành mới phát sinh gọi là ngũ Hành Nạp Âm, kết hợp Can Dương với Chi Dương, Can Âm với chi Âm, bắt đầu từ Giáp Tí đến Qúi Hợi có 30 ngũ hành nạp âm. Cần chú ý là với kết hợp như trên thì mỗi Chi đều có đủ ngũ hành, tùy theo Can mà có các hành khác nhau. Ví dụ Tí thì có Giáp Tí hành Kim, Mậu Tí Hỏa, Nhâm Tí Mộc, Bính Tí Thủy, Canh Tí Thổ. Mỗi hành đều được phân thành sáu lọai khác nhau, và sáu lọai hành riêng biệt đó là kết quả của sự kết hợp của 12 chi với sáu Can, chứ không kết hợp đủ mười Can, bởi vì Chi Dương thì chỉ kết hợp với Can Dương, Chi Âm thì kết hợp với Can Âm
Theo nhạc điệu thì giống Cung thuộc Thổ, Chủy thuộc Hỏa, Thương thuộc Kim, Vũ thuộc Thủy, và Giốc thuộc Mộc. Đem phối hợp Can Chi từng năm với 5 âm trên, rồi lấy hành Âm đó sinh ra làm hành năm. Mỗi năm lại bị chi phối bởi 12 luật, mỗi luật chứa năm âm, vì vậy 5 âm thuộc 5 hành cơ bản biến thành 60 hành chi tiết của năm hành chính. Ví dụ hai năm đầu tiên là Giáp Tí và Ất Sửu mang âm Cung thuộc Thổ. Thổ sinh Kim, như vậy hai năm trên thuộc hành Kim, nhưng là Hải Trung Kim. Hành đó là hành nạp âm của hai năm Giáp Tí và Ất Sửu. Việc nạp âm cho vòng Giáp Tí phải tính tóan rất phức tạp, nên ngày nay người ta đều sử dụng bản tính toán hành nạp Âm của năm từ xưa để lại
GIẢI THÍCH NGŨ HÀNH NẠP ÂM
Để giải thích phương pháp tìm ra hành ghi trên bảng đó, cổ nhân có giải thích như sau: Khí Kim sinh tụ phương Khôn, tức là cung Thân trên thiên bàn, đi sang Nam thành Hoả, qua Đông thành Mộc rồi trở về Bắc thành Thủy, rồi hoá Thổ về Trung Ương. Hành khí trên được sinh ra do sự phối hợp giữa Âm và Dương (thành ra ta cứ hai năm Dương và Âm thì có chung một hành, Dương ghi trước, Âm ghi sau) và theo nguyên tắc Âm Mẫu) Dương Cha) phối hợp cách bát sinh tử (con), nghĩa là sau tám năm thì có một hành mới được sinh ra theo qui tắc sinh ra như bên trên đã đề cập (Kim sinh rồi thì kế đến là Hỏa được sinh, rồi Mộc, Thủy, Thổ rồi lại sinh tiếp Kim theo chu kỳ khép kín). Ví dụ bắt đầu từ hai năm Giáp Tí (Dương) và Ất Sửu (Âm) ta có hành Kim, thì cứ cách 6 năm Nhâm Thân va Qúi Dậu ta cũng có hành Kim, sáu năm sau tức là năm Canh Thìn Tân Tỵ cung là hành Kim. Được ba lần hành Kim thì đến hành Hỏa. Như vậy Mậu Tí Kỷ Sửu là Hỏa, cách 6 năm là Bính Thân Đinh Dậu là Hỏa, cách 6 năm đến Giáp thìn Ất Tỵ là Hỏa. Sau 3 lần Hỏa thì đến Mộc. Như vậy Nhâm Tỵ, Qúi Sửu là Mộc, 6 năm sau Canh Thân Tân Dậu là Mộc, rồi Mậu Thìn Kỷ Tỵ là Mộc. Sau 3 lần Mộc là Thủy. Rồi sau ba lần Thủy là Thổ, tiếp tục làm như thế ta được các hành trên bảng lục Hoa giáp.

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2020

LÀM GÌ KHI ÂM KHÍ NHIỄM VÀO NGƯỜI SAU KHI ĐI ĐÁM TANG VÀ CÁCH XẢ TRƯỢC.


LÀM GÌ KHI ÂM KHÍ NHIỄM VÀO NGƯỜI
SAU KHI ĐI ĐÁM TANG VÀ CÁCH XẢ TRƯỢC.
Thỉnh thoảng, sau khi đi đám tang, có người sẽ bị cảm, người sốt, mệt mỏi, hoặc những vết thương trên cơ thể bỗng nhưng sưng to và đau hơn, bệnh tình trong cơ thể trở nặng hơn. Bạn có gặp trường hợp đó không? Nếu có, thì nguyên nhân chính là do trược khí đã nhiễm vào người bạn. Trược khí hay còn gọi là âm khí, là nguyên nhân gây ra rất nhiều vấn đề sức khoẻ thể chất lẫn tinh thần mà bình thường ít người lưu tâm hoặc gần như không biết đến.
Đây là chuyện nhỏ nhưng rất quan trọng. Quan trọng đến sức khỏe và cuộc sống của chúng ta. Có 1 số người, nhất là nữ, thể trạng sức khỏe yếu như chân tay lạnh, sợ lạnh, huyết áp thấp, bị các chứng đau nhức mỏi lâu ngày như viêm khớp, thoái hóa khớp, bị các bệnh nan y như u, bướu. Theo hiểu biết và kinh nghiệm của chúng tôi, đây là những người có nhiều âm khí, thiếu kiềm, nhiều axit. Họ hay có cảm giác mệt mỏi, buồn ngủ, hôn trầm, suy nghĩ tiêu cực, đau nhức, nhất là khi đến những nơi có nhiều âm khí như nghĩa trang, đám ma, bệnh viện,..
Cách nào để giúp họ!
Trước hết, chúng ta cần hiểu rằng cơ thể chúng ta là cơ thể sống và ai cũng có năng lượng, vấn đề là cao hay thấp, nhiều hay ít mà thôi. Tôi nghe nói ở Mỹ đã có máy đo năng lượng. Tôi định sẽ mua một chiếc để sử dụng.
Theo quan sát của chúng tôi, người có năng lượng cao thường là những người khỏe mạnh, vui vẻ, thư giãn, an nhiên. Nhìn vào khuôn mặt và lối sống của họ là biết ngay. Thường đó là các thiền sư hay những ai thực hành thiền thường xuyên, các võ sư, những ai luyện khí công. Cũng có những người vốn dĩ bản thân từ khi sinh ra có trạng thái sức khỏe tốt và sức đề kháng tốt. Cũng có thể do lối sống, cách ăn uống và sinh hoạt nữa.
Nguồn năng lượng sẽ sinh ra nhiệt năng. Năng lượng cao thì dương khí cao, sung mãn. Những người có năng lượng cao luôn khỏe mạnh, vui tươi, an lạc, hoạt bát, nhanh nhẹn. Khi họ đi đám ma, đến bệnh viện, ra nghĩa trang...thì sẽ lấn được trường năng lượng âm. Họ không bị ảnh hưởng hoặc rất ít bị ảnh hưởng.
Những người có năng lượng thấp dễ bị âm khí, năng lượng âm vốn đã có sẵn trong cơ thể. Khi họ khi đám ma, đến bệnh viện, ra nghĩa trang,...bị cộng hưởng thêm âm khí thì khi về nhà có thể sẽ đau nặng hơn, mệt mỏi hơn, ể oải hơn, tiêu cực hơn,...
CÁCH XẢ TRƯỢC VÀ TĂNG DƯƠNG
1. Nên tăng cường kiềm, giảm a xít (Đọc và ứng dụng trong cuốn sách rất quý KIỀM VÀ A XÍT)
2. Nếu đang bị bệnh, đang mệt mỏi, nhất là u, bướu,... cần hạn chế đến những nơi nhiều âm khí
3. Nếu phải đi thì nên lưu ý làm như sau:
3.1 Trước khi đi nên uống 1 ly nước GỪNG ẤM cho thêm một chút muối biển (dạng hột lớn).
3.2 Mang theo người vài nhánh TỎI, GỪNG, NGHỆ, TIÊU, SẢ. Đây là những thứ rất dương. Chúng sẽ giúp giảm bớt năng lượng xấu từ âm khí. Các gia vị này có tính cay nồng.
3.3 Về đến nhà nên nấu nước BỒ KẾT, SẢ, VỎ BƯỞI, GỪNG, BỘT QUẾ để tắm. Lưu ý là KHÔNG TẮM ĐÊM. Nếu đã tối rồi thì chỉ nên lau người. Có thể đốt lên và bước qua bước lại. Hoặc ngồi bên cạnh kiểu xông vậy. Có thể xông hơi nếu có lều xông hơi.
3.4.Nên dùng MÁY SẤY TÓC SẤY ẤM toàn thân.
4. Tập luyện thể dục thường xuyên. Rất nên học khí công, yoga, thái cực quyền, dịch chân kinh, dưỡng sinh... Không được để bàn chân lạnh, tay lạnh. Không để cho cảm giác sợ lạnh kéo dài. Sợ lạnh là tín hiệu báo cơ thể đang dần mất dương khí.
5. Nên thực hành thiền. Mỗi ngày ít nhất 2 thời, sáng và tối. Ít nhất mỗi thời 30 phút.
6. Nên xông nhà bằng bồ kết, xả, quế, lau nhà bằng nước gừng, làm nóng nhà, không để nhà tối tăm quá, thiếu ánh sáng.Lưu ý làm vệ sinh thường xuyên nhà vệ sinh, kho, bếp, tầng ngầm...
7. Có lối sống tích cực. Ít nhất giữ 5 giới. Tránh đọc nghe các thông tin tiêu cực. Nên tiếp xúc với người có dương khí mạnh. Nên tư duy tích cực ngày đêm.
8. Luôn lắng nghe cơ thể. Cơ thể sẽ mách bảo. Hãy giữ cơ thể ấm áp, sạch sẽ, nhất là chân phải ấm.
9. Nên ngâm chân với nước ấm với Thảo dược ngâm chân với muối hột.
10. Mỗi ngày, hãy dành vài phút để nhìn lại suy nghĩ và hành động của mình, phát hiện ra lỗi lầm và sửa đổi để hoàn thiện bản thân. Khi bạn có nội tâm lương thiện, bạn sẽ tạo ra tần số thu hút những năng lượng dương bảo hộ cho bạn.
KHI CHUYỂN VỀ NHÀ MỚI sau khi mới xây dựng hay mới mua nhà NHẤT ĐỊNH PHẢI XÔNG NHÀ.
Cách làm rất đơn giản: Đốt bồ kết, xả, vỏ bưởi khô, bột quế (nếu có) và xông. Xông cả ngôi nhà. Nhất là tầng ngầm, bếp, nhà vệ sinh.
Thắp đèn liên tục tất cả các nơi trong nhà của bạn, nếu có thể hãy đốt 1 lò lửa than hồng.
Đây là trải nghiệm và kinh nghiệm cá nhân đã thực hành lâu nay và đã chỉ cho nhiều người rất hiệu quả. Mong cả nhà chia sẻ nhé.
Nếu ai ko có thời gian thì qua tôi mua ít rượu trầm về tắm hoặc tưới xung quanh nhà nhé.
(ST)



Thứ Sáu, 27 tháng 12, 2019

Tiên Thiên Thủy Pháp – Long Môn Bát Cục 1

Tiên Thiên Thủy Pháp – Long Môn Bát Cục

Long Môn Bát Cục - Trung Thiên Thủy Pháp
Thủy Pháp là một phần kiến thức cực kỳ trọng yếu trong môn Phong Thủy Học. Tuy nhiên, đây cũng chính là phần rắc rối nhất trong bộ môn Phong Thủy Học.
Hôm nay. Cohoc.vn xin phép thống kê toàn bộ các trường phái Thủy Pháp trong bộ môn Phong Thủy, cũng như đi sâu vào phân tích Tiên Hậu Thiên Thủy Pháp, hay còn được gọi bằng 1 cái tên rất hay là Long Môn Bát Cục…

Thập Nhị Vị Long Môn Thủy Pháp

Tam Nguyên Long Môn Bát cục – Càn Khôn Quốc Bảo là pháp nằm trong Tứ Đại Thủy Pháp của Địa Lý Phong Thủy, gồm :
  • Tam Hợp thủy pháp, hay còn gọi là Thủy Pháp Trường Sinh (Trường Sinh Thủy Pháp)
  • Tam Nguyên Thủy Pháp, hay còn gọi là Trung Thiên Thủy Pháp – Tiên Hậu thiên thủy pháp – Long Môn bát cục – Càn khôn quốc bảo.
  • Phụ tinh thủy pháp.
  • Tự nhiên thủy pháp, hay còn gọi là Dương công thủy pháp.
Trong đó, nguyên tắc của Tam nguyên thủy pháp là dựa vào phương vị lai khứ của thủy trên 24 sơn đối ứng với phương vị của Tiên thiên quái và Hậu thiên quái mà định cát hung.
Long Môn Bát Cục - Trung Thiên Thủy Pháp

Long Môn Bát Cục – Tam Nguyên Thủy Pháp

Muốn luận Tam Nguyên thủy pháp, trước hết phải an 12 vị, xin giới thiệu cụ thể cách an như sau :

Tiên thiên vị

Trước tiên hãy xem tọa nhà thuộc quẻ nào (Hậu thiên), quẻ này tại tiên thiên thì cư ở phương vị nào, phương vị đó là phương vị Tiên thiên của nhà.
Tiên thiên chủ nhân đinh

Hậu thiên vị

Trước tiên xem toạn nhà thuộc quẻ nào (Hậu thiên), quẻ này tại tiên thiên thì cư ở phương vị nào thuộc quẻ nào, tìm phương vị tại hậu thiên bát quái, phương vị đó là phương vị hậu thiên của nhà.
Hậu thiên chủ thê tài.

Tân vị

Trước tiên xem hướng nhà tại quái nào (hậu thiên), quái này tại tiên thiên cư phương vị nào, phương vị đó là tân vị của nhà
Tân – Khách ứng nữ nhân, âm, họ ngoại, dịch khách.

Khách vị

Trước tiên xem hướng nhà tại quái nào (hậu thiên), quái này tại tiên thiên cư phương vị nào thuộc quái nào, tìm phương vị tại hậu thiên bát quái, đó là phương vị khách vị của nhà.
Tân – Khách ứng nữ nhân, âm, họ ngoại, dịch khách.

Thiên kiếp vị

Trước tiên xem tọa sơn thuộc quẻ nào (hậu thiên), lại dựa vào phương pháp đã thuật ở trước tìm ra Hậu thiên vị, lại lấy cái quẻ hậu thiên này làm chủ, lại theo phương pháp thuật ở trước tìm Hậu thiên vị, được vị trí quái, tức là vị trí Thiên kiếp của tọa sơn.
Thiên kiếp thủy là ác thủy

Địa hình vị

Địa hình vị cùng với Thiên kiếp vị đều là vị trí chếch bên cạnh phương đối diện tọa sơn, đối xứng nhau, nếu 1 cái chếch bên trái thì cái kia ắt chếch bên phải. Lấy nhà tọa Khảm làm ví dụ, quẻ Tốn chếch bên trái tại đằng trước là Thiên Kiếp, thì quẻ Khôn là Địa hình vị.
Địa hình vị là ác thủy.

Án kiếp vị

Án kiếp vị còn gọi là Chu tước vị, tức là quẻ ở hướng Minh đường, như tọa Khảm sơn, thì Ly quái là Án kiếp vị.
Án kiếp thủy nên xuất, không nên tới.

Phụ quái vị

Phụ quái là đem Tọa sơn, tiên thiên, hậu thiên, thiên kiếp – địa hình – án kiếp, tân-khách vị taatr cả 7 quái trừ đi, còn dư lại 1 quái chính là Phụ quái vị. Nếu 8 quẻ đều chiếm hết, thì cùng vị trí với Địa hình vị.
Phụ quái là Linh khí phụ trợ, quý nhân thủy, nên đến không nên đi,

Khố trì vị

Khố trì vị tức là Tài Khố, tác dụng để luận tài phú nhiều ít, Khố trì cần nhất alf “đăng thanh cận huyệt” cận huyệt thì phát viễn.
Sơn Khố trì vị của các quẻ như sau :
  • Càn quái sơn ( Tuất – Càn – Hợi) : Khố trì tại Cấn
  • Đoài quái sơn (Canh – Dậu – Tân) : Khố trì tại Quý
  • Ly quái sơn (Bính – Ngọ – Đinh) : Khố trì tại Tân
  • Chấn quái sơn (Giáp – Mão – Ất) : Khố trì tại Nhâm
  • Tốn quái sơn (Thìn – Tốn – Tỵ) : Khố trì tại Khôn
  • Khảm quái sơn (Nhâm – Tý – Quý) : Khố trì tại Khôn
  • Cấn quái sơn (Sửu – Cấn – Dần) : Khố trì tại Càn
  • Khôn quái sơn (Mùi – Khôn – Thân) : Khố trì tại Tốn

Thủy Khẩu vị

Thủy khẩu cũng gọi là Chính Khiếu vị, Xuất thủy phép tắc :
a. Thủy thích theo Thiên Can lưu xuất, kỵ địa chi lưu xuất. Bởi vị Địa chi mỗi năm gặp tuế chi lại thành hình sát (Thái Tuế). Thiên Can thì không bị xung sát này. 24 sơn thiên can gồm : Bát Can – Giáp, Ất, Bính, Đinh, Canh, tân, Nhâm, Quý. Tứ ngung quái : Càn Khôn Cấn Tốn. Tổng là 12 sơn, 12 địa chi gồm : Tý sửu dần mão thìn tỵ ngọ mùi thân dậu tuất hợi.
b. Tiên thiên vị, Hậu thiên vị, Phụ quái vị, Địa Hình vị đều không thể lưu xuất, Tân khách vị (xem sinh nam, sinh nữ thủ xá), Thiên kiếp, Án kiếp vị cần xuất không cần nhập. Chỗ khẩu thủy lưu xuất ứng với Chính Khiếu vị. Tổng hợp lại, Bát Can và Tứ Ngung cộng 12 sơn là có thể đem làm nơi lưu xuất thủy. 12 địa chi không được lưu xuất.
Vị trí Chính Khiếu tại các Sơn quái như sau :
  • Càn quái sơn ( Tuất – Càn – Hợi) : Chính Khiếu tại Tốn
  • Đoài quái sơn (Canh – Dậu – Tân) : Chính Khiếu tại Giáp
  • Ly quái sơn (Bính – Ngọ – Đinh) : Chính Khiếu tại Tân
  • Chấn quái sơn (Giáp – Mão – Ất) : Chính Khiếu tại Càn
  • Tốn quái sơn (Thìn – Tốn – Tỵ) : Chính Khiếu tại Cấn
  • Khảm quái sơn (Nhâm – Tý – Quý) : Chính Khiếu tại Tốn
  • Cấn quái sơn (Sửu – Cấn – Dần) : Chính Khiếu tại Khôn
  • Khôn quái sơn (Mùi – Khôn – Thân) : Chính Khiếu tại Giáp.

Tiểu Bát Môn (biến cục)

Tiểu bát Môn là chỉ tình hình Tọa-Hướng xuất hiện kiêm quái, lấy phương hướng thuận chiều kim đồng hồ mà xem. Chữ thứ 3 trong mỗi quẻ kiêm với chữ thứ nhất trong quẻ sau, gọi là Tiểu bát môn.
  • Tọa Ất kiêm Thìn : Nội phóng Càn, chuyển Nhâm, kỵ phóng Tân phá Hậu Thiên, tức trưởng phòng phá tài hoặc tái hôn.
  • Tọa Tân kiêm Tuất : Thủy xuất Tốn – Ất – Giáp, phóng Ất thủy là thượng cát, còn ngoại cục cần Chuyển Cấn
  • Tọa Tỵ kiêm Bính : Phóng Nhâm thủy thượng cát, Ngoại cục thủy yếu chuyển Cấn, kỵ phóng Canh, tân, thủy chuyển Khôn thời, Ứng lập Nhâm hướng.
  • Tọa Hợi kiêm Nhâm : phóng Tốn thượng cát, nội cục phóng Bính, không thể sáng sủa được.
  • Tọa Đinh kiêm Mùi : Nội phóng Khôn, Ngoại chuyển Cấn
  • Tọa Quý kiêm Sửu : Nội phóng Đinh, ngoại chuyển Bính, phóng Ất thủy bại tam phòng. Phóng Khôn tài cục phá, Trưởng phòng tăng hội tái hôn, Quý-Đinh-Sửu-Mùi kỹ thủy lưu Đông, Thủy lưu Tây tắc vô sự.
  • Tọa Thân kiêm Canh : Thủy xuất Cấn Giáp.
  • Tọa Dần kiêm Thân : Thủy xuất Tân – Càn.

Diệu sát vị

Diệu sát chia ra làm Chính Diệu, Phản diệu, Địa diệu : khắc tức là sát, Bát sát : Lấy nghĩa ở bát quái ngũ hành. Dùng cái Khắc Ta trong quẻ. Diệu sát ca quyết “Khảm long khôn thỏ chấn sơn hầu, Tốn kê Càn mã Đoài xà đầu, Cấn Hổ lý trư vi diệu sát, trạch phần phùng chi nhất tề hưu”. Diệu sát phương tối kỵ hữu thủy, lộ xung tài, tiêm vật bức cận, thất giác….

Chính diệu sát

Là Bát thuần quái chi quan quỷ hào, khắc ta là quan quỷ.
  • Càn – Chính diệu sát tại Ngọ
  • Đoài – Chính diệu sát tại Tỵ
  • Ly – Chính diệu sát tại Hợi
  • Chấn – Chính diệu sát tại Thân
  • Tốn – Chính diệu sát tại Dậu
  • Khảm – Chính diệu sát tại Thìn
  • Cấn – Chính diệu sát tại Dần
  • Khôn – Chính diệu sát tại Mão

Phản diệu sát

Phản diệu sát tức là Tiên thiên quái chi quan quỷ hào.
Trước hết xem quẻ tiên thiên tại tọa sơn thuộc phương nào, tương ứng với hậu thiên thuộc quẻ nào, sau đó đối chiếu Bát sát diệu ca quyết tìm phản diệu sát. Ví dụ Tọa Khảm hướng Ly, vị trí quẻ Khảm tiên thiên tại Tây phương, Phương tây là vị trí quẻ Đoài hậu thiên, đối chiếu ca quyết đc Tỵ là Phản diệu sát.
Địa diệu sát : Địa diệu sát là Hậu thiên quái chi quan quỷ hào.
Trước tiên xem quẻ Hậu thiên của Tọa sơn ở Phương nào, tương ứng với quẻ tiên thiên nào, Lại đối chiếu với ca quyết để tìm Địa sát diệu. Ví dụ tọa Khảm, hướng Ly, Quẻ hậu thiên Khảm tại phương Bắc, Phương Bắc lại là quẻ Khôn tiên thiên, đối chiếu với ca quyết, Khôn quái quan quỷ hào ở Mão, Mão là địa diệu sát.
NGUYỄN TRỌNG TUỆ·THỨ BA, 27 THÁNG 11, 2018
st.