Thứ Bảy, 10 tháng 11, 2018

10 mẹo tâm linh dân gian ứng dụng trong cuộc sống


10 mẹo tâm linh dân gian ứng dụng trong cuộc sống
Theo quan niệm dân gian, khi đi xa nhà, xuất hành, du lịch trở về nhất định phải gõ cửa nhà mình dù không cần thiết. Đó chỉ là một trong 10 mẹo tâm linh mà ông bà ta truyền lại từ xưa.

Những mẹo tâm linh hay mẹo dân gian thường được truyền miệng, dù chưa rõ thực hư nhưng vẫn nên tham khảo để biết thêm những điều thú vị, giúp ích cho cuộc sống.
1. Trong nhà có trẻ nhỏ dưới 3 tuổi mà hay khóc quấy thì ôm đứa trẻ ra khỏi nhà rồi quét dọn sạch sẽ, bế về thì đi ngược để hứng dương khí, xua âm khí.
 2. Buổi sáng không nên cãi cọ, tranh luận cùng người khác, nếu mới sáng sớm đã bực bội sẽ tạo thành Hỏa khí vượng, âm dương bất hòa, vận khí theo đó mà tuột dốc.
3. Phòng ngủ không nên có gương, trừ phi là gương cầu lõm vì gương cầu lõm có công hiệu nạp cát. Các loại gương còn lại đều tích âm khí khiến cho phòng ngủ dương khí không đủ, dễ sinh bệnh.
 4. Cả nhà xuất hành đi chơi, du lịch, công tác, thăm quê trên 3 ngày thì sau khi quay về nhất định phải gõ cửa, gõ xong chờ một lát rồi mới bước vào. Vì nhà vắng người sẽ có “khách” viếng thăm, gõ cửa để báo hiệu cho họ rời đi. Đây là mẹo nên tránh để không bao giờ gặp ma
5. Gặp ác mộng, nửa đêm bừng tỉnh thì sáng hôm sau tỉnh dậy hãy thổi 3 lần vào gối để xua tan điềm dữ.
6. Cây dâu, cây hòe, đại trúc, bạch đàn, dạ lai hương không nên trồng, bày trong sân nhà, sẽ mang tới điềm dữ.
 7. Nếu buôn bán, công việc không thuận lợi trong vòng hơn 180 ngày thì nên đi du lịch xa hoặc chuyển nhà để thay đổi vận khí.
 8. Người sau khi xuất viện đi ngang ngã tư đường thì đổi quần áo trên người thành quần áo mới, sẽ mau chóng phục hồi, khỏe mạnh.
9. Người đi một mình vào buổi tối không nên hát mà nên chạy hoặc rảo bước thật nhanh để đỡ sợ.
 10. Không nên giết hại chó mèo vì sẽ ảnh hưởng tới tuổi thọ. Chó mèo tràng khí rất lớn, không may giết hại thì phải lập tức dời nhà đi chỗ khác càng xa càng tốt.
ST-TTĐ

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2018

ĐẠI QUÁI ĐẠI THÀNH VÀ LIÊN THÀNH






ĐẠI QUÁI ĐẠI THÀNH VÀ LIÊN THÀNH
1.    NHÀ 235 ĐỘ VẬN 7:
TÂM ĐẮC KHÔNG THỂ THOÁT KHỎI LIÊN THÀNH
NHÀ TOẠ DẦN 55* HƯỚNG THÂN 235*
Chủ nhà TÂN HỢI 1971
Nhập Trạch năm 2000 - CANH THÌN

Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

TU TÂM VÀ CHỮA BỆNH


TU TÂM VÀ CHỮA BỆNH

   Con người ta ai cũng có bệnh, không nặng thì nhẹ. Có bệnh, trừ những biến cố đột xuất của cơ thể, chủ yếu là do nghiệp lực mà ra. Người đã làm nhiều điều xấu thì nghiệp lực nặng, nên bị bệnh. Muốn chữa bệnh thì phải giải được nghiệp lực. Muốn giải nghiệp lực thì phải tu tâm để tích đức.
1- Tu tâm
   Tu ở đây phải là tu chân chính, phải là tu tâm tích đức, và phải cả luyện công để lên được tầng cao. Tu không phải để có khả năng chữa bệnh hoặc tự chữa bệnh mà là để giải nghiệp lực, tiến lên tầng cao của vũ trụ. Giải được nghiệp lực thì bệnh mới chữa khỏi.
Vậy nghiệp lực là gì?
   Đó là món nợ phải trả cho những hành động tội lỗi do mình gây ra trước đây. Nghiệp lực do tự thân mình gây ra nên tự mình phải trả. Muốn giải nghiệp lực thì phải tu chân chính để thanh lý hết những điều không tốt trong tư tưởng và trong trường nghiệp lực của mình. Đó là những nhân tố gây nên bệnh. Cho nên, muốn khỏi bệnh thì phải trừ được nghiệp lực.
Tại sao phải tu?
   Con người cõi trần do cha mẹ sinh ra, nhưng Bản nguyên mỗi người thì sinh ra từ trong vũ trụ do vận động tương hỗ các loại vật chất có sẵn trong đó. Bản chất của không gian vũ trụ là Chân Thiện Nhẫn. Con người sinh ra ở đây cũng có được đặc tính này. Nếu tu thân tốt, họ sẽ tiến dần lên bậc thanh cao. Nhưng cũng có nhiều người dần dần sinh tâm ích kỷ, phạm lỗi lầm làm giảm tính thanh cao. Đến mức nào đó thì rơi xuống tầng thấp hơn. Rồi lại tiếp tục biến đổi không tốt để rơi xuống tầng thấp hơn nữa. Cứ như thế cho đến khi xuống đến cõi trần, là tầng nhân loại. Đó là tầng thấp nhất. Theo đạo Phật, rơi xuống đây là rơi vào cõi mê, đáng bị tiêu hủy, nhưng tạo hóa vốn từ bi đã mở cho họ một cơ hội làm người để tu tiến. Cho nên người ở đây phải biết tu luyện theo hướng quên mình để đến với Chân Thiện Nhẫn.
Chân Thiện Nhẫn là gì?
    -   Chân: là tu chân dưỡng tính: nói lời chân thật, làm điều chân chính, quên mình mà tu thành Chân nhân. (Ở đây không đề cập đến vấn đề nói dối để bảo vệ cái đúng, bảo vệ lý tưởng, bảo vệ đất nước… thì có phải là Chân hay không).
    -   Thiện: là có tâm từ bi bác ái. Khi đó sẽ thấy chúng sinh rất khổ, muốn làm điều thiện để giúp chúng sinh. Có hành động Thiện thì dễ tích đức. Thiện là biết quên mình vì người khác. Chống lại mọi tà ác cũng là Thiện. Bảo vệ cái đúng cũng là Thiện.
     -   Nhẫn: là có tính chịu đựng, tha thứ, biết tự kiềm chế để không nóng nảy dẫn đến hành động xấu. Có Nhẫn thì dễ nhận đức và xả được nghiệp. Một người đánh ta, ta không đánh lại là ta đã nhận được đức từ người kia. Người này đã mất đức và tăng thêm một nghiệp lực cho mình. Nếu ta đánh lại thì tức là ta lại mất đức của mình cho người đó, và lại tăng một nghiệp lực cho mình. Vậy bạn có nên Nhẫn không? Chịu đựng mà không tức giận hay oán trách mới là cái Nhẫn của người tu luyện. Muốn có Nhẫn thì tâm phải từ bỏ oán thù (không có nghĩa coi kẻ thù là bạn).
Chân Thiện Nhẫn phải là đồng tu. Phải luôn tu tâm để đạt được cả 3 cái này.
Tu thế nào?
   Bạn hãy hiểu tu một cách đơn giản, không nhất thiết cứ phải cắt tóc lên chùa đi tu. Đấy chỉ là một trong nhiều cách tu. Bạn có thể tu tại tâm: tâm nguyện Chân Thiện Nhẫn. Hàng ngày bạn luôn nghĩ đến điều này. Khi có thời gian bạn có thể ngồi tịnh tâm, xóa hết tà ác từ trong tâm của mình, cầu mong tu được Chân Thiện Nhẫn. Bạn có thể ngồi tịnh trước bàn thờ, dưới gốc cây trong vườn, trên gường ngủ v.v... Thậm trí vào giờ nghỉ trưa có thể ngồi tịnh ngay ở bàn làm việc của mình. Hàng ngày hãy tự rèn mình từ trong lời nói đến hành động, hướng đến Chân Thiện Nhẫn. Tâm tu cả trong lúc làm việc, đi lại, nghỉ ngơi. Cứ như vậy ngày này sang ngày khác, tháng này sang tháng khác, nghiệp chướng sẽ được bào mòn, bệnh sẽ vơi. Việc này đòi hỏi phải rất kiên trì. Cần nhớ rằng tâm phải thành, không được giả dối, không được gượng ép. Nếu bạn có thể thiền nhập định thì càng tốt. Vì khi ta thiền định thì tâm trí ta được nghỉ ngơi, dễ xả bỏ tà tâm.
   Tốt hơn thì bạn nên tìm một lớp học, nhờ thầy hướng dẫn và trợ giúp luyện tu. Thầy có trình độ ở mức cao thì có thể vừa giảng đạo, vừa hướng dẫn luyện công.
   Một người chỉ cần có ý muốn tu luyện thì đã được coi là có Phật tính xuất hiện rồi. Tu không có điều kiện nào cả. Tu là tu, không để đạt mục đích đã định trước. Giúp đời cũng vậy. Giúp là giúp, không có điều kiện nào đặt ra.
   Đạo Phật có nói đến vấn đề phải gạt bỏ Tham Sân Si, tức là không tham lam ích kỷ, không hận oán chán ghét, không ngu dốt lầm lạc. Đó chính là con đường để đến với Chân Thiện Nhẫn.
   Chân Thiện Nhẫn là đặc điểm vốn có của vũ trụ, là tiêu chuẩn để đánh giá người tốt hay xấu. Xã hội loài người hiện đang suy giảm nghiêm trọng đạo đức, cho nên tiêu chuẩn đánh giá người tốt xấu cũng sai lệch. Một người luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ thì đó là một hành động tốt, nhưng chưa chắc đã là một người tốt. Nếu anh ta làm tốt nhiệm một cách vụ vô điều kiện, không cầu gì cho mình, thì đó là người tốt. Nếu hoàn thành tốt nhiệm vụ với động cơ để được thăng tiến, được danh vọng, được  thưởng, hoặc lợi dụng công việc để kiếm tiền thì đó là người không tốt. Cho nên, đánh giá con người phải lấy Chân Thiện Nhẫn làm tiêu chuẩn. Tu tâm chính là hướng tới Chân Thiện Nhẫn.
2- Chữa bệnh 
   Người chữa bệnh cần hiểu 2 vấn đề sau đây:
1-  Chữa bệnh là việc làm được phép, nhưng không phải là giúp người bệnh để khỏi bệnh mà không cần phải trả nghiệp của họ. Nhưng phải là chữa bệnh cứu người, không vì tham lam ích kỷ cho mình. Khi đó chữa bệnh là tăng đức cho mình. Nếu tham lam ích kỷ, lợi dụng người bệnh để trục lợi thì chính mình đã tăng nghiệp lực của mình. Rồi đến lúc cũng phải trả nghiệp này. Bác sỹ kê đơn thuốc cho bệnh nhân quá mức để trục lợi, hoặc thông đồng với nhà thuốc để trục lợi trên người bệnh thì nhất định sẽ gặp tai họa nặng nề về sau. Vì sinh nghiệp thì phải trả nghiệp, không thể trốn khỏi quy luật này của tạo hóa. Có thể là chữa bệnh phần thực thuộc thân xác lục phủ ngũ tạng cơ bắp của người bệnh. Cũng có thể là chữa bệnh phần mờ liên quan đến thể vía thuộc cõi giới vô hình, như bệnh vong nhập, bệnh vong theo, bệnh lệch luân xa v.v...

2-  Chữa bệnh, dù là bệnh phần thực hay phần mờ thì cũng có 2 loại bệnh sau đây:
-   Bệnh do những đột biến khách quan gây ra: như bị cảm gió, bị ngộ độc thức ăn, bị tai nạn giao thông v.v... Hoặc bị vong nhập do yếu bóng vía khi ra nghĩa trang, hoặc đứa trẻ vài tháng tuổi bị vong nhập làm đau đầu khóc đêm. (nó chưa thể làm gì tội lỗi đến phải trả nghiệp) v.v... Những bệnh này không phải là bệnh do nghiệp chướng, nên chữa khỏi là khỏi. Bạn chữa được bệnh giúp đời là đã tích thêm đức, giảm được nghiệp cho mình.
-    Bệnh do hoàn trả nghiệp: Bệnh này sinh ra dù ở phần thực hay phần mờ thì cũng đều là do phải trả giá cho những hành động tội lỗi của mình gây ra trước đây. Bệnh này có thể không thể chữa khỏi, có thể chữa khỏi chưa chắc đã khỏi, khỏi bệnh này có khi lại sinh bệnh khác, hoặc sinh một tai ương khác trong cuộc sống. Chữa bệnh ở đây chỉ là hoãn bệnh hoặc hoán đổi dạng trả nghiệp này sang dạng trả nghiệp khác mà thôi. Vì nó chưa giải được vấn đề mấu chốt là phải giải được nghiệp. Muốn chữa khỏi bệnh thì người bệnh phải tu tâm để giảm được nghiệp lực bản thân. Khi giải xong nghiệp lực thì bệnh mới chữa khỏi. Cũng có thể xin tạm khất trả nghiệp rồi tu tâm để giải bớt nghiệp lực của mình. 
   Muốn giải Nghiệp thì phải tích Đức. Đức và Nghiệp là 2 phạm trù ngược nhau. Đức là sản phẩm vật chất có màu trắng, thanh nhẹ, sinh ra do con người làm những việc tốt do có lòng nhân ái. Còn Nghiệp là sản phẩm có màu đen, nặng trọc, sinh ra do làm việc xấu, với tâm tà. Khi Đức tăng thì Nghiệp giảm. Khi nào giải xong Nghiệp thì bệnh sẽ chữa khỏi. Cho nên con người phải tích Đức là vậy. Nghiệp lực kết thành những cục màu đen, là cơ sở của mầm bệnh. Người nặng nghiệp lực thì cơ thể toàn mầu đen. Những vong lang bạt trên cõi trần, không chịu tu luyện ở cõi âm, cũng có màu đen. Chúng tương hợp với mầu đen nghiệp lực nên dễ nhập vào người gây nên bệnh vong nhập. Trong trường hợp này muốn giải vong thì phải giải được nghiệp lực. Có nhiều người bị quá nhiều vong nhập, nhưng không giải nổi vì nghiệp lực quá nặng. Khi giải được nghiệp lực thì mới giải được hết vong. Khi xin khất trả nghiệp (kiếp sau mới trả) mà được chấp nhận thì cũng có thể dễ dàng giải hết vong nhập trong người.

   Các nhà khí công thường quan tâm đến vận Khí đề chữa bệnh và tăng cường sức khỏe. Nhưng đây không phải là mục tiêu của khí công. Khí công không chỉ dừng ở vận Khí. Nó là một khoa học có trình độ thâm cao. Mục tiêu luyện khí công không phải là để khai mở, tức là để có được công năng (thí dụ khai mở nhãn thần v.v...) mà phải là để tăng công lực bản thân lên tầng cao hơn. Tầng càng cao thì công lực càng lớn, công năng càng mạnh. Một khi nhà khí công đã vượt được lên tầng cao thì các công năng đặc dị sẽ khai mở. Muốn vậy thì cần tu để đạt Chân Thiện Nhẫn. Từ tầng cao nhìn xuống mới thấy được đường hướng chữa bệnh phải làm gì.
Chú ý: Tu tâm tích đức là một hiện thực cần thiết. Không phải là mê tín dị đoan !
ST-TTĐ

Quỷ thần hưởng thụ thức ăn dâng cúng như thế nào?


Quỷ thần hưởng thụ thức ăn dâng cúng như thế nào?

Trước hết giải thích sơ lược về bốn loại ăn uống. Tất cả chúng sanh đều nhờ ăn để sống. Ăn có bốn loại: Thứ nhất là phần đoạn thực. Chúng sanh hữu tình, phàm có khí huyết hình tướng, đều là phần đoạn thực.
“Phần” là anh có phần của anh, tôi có phần của tôi. “Ðoạn” là từng khúc từng khúc, hoặc là từng bữa từng bữa. Giống như ăn sáng, ăn trưa, ăn tối. Khoảng giữa hai bữa ăn gọi là đoạn. Người và súc sanh đều là phần đoạn thực.
Còn ba loại khác là xúc thực, tư thực, thức thực. Xúc thực là đụng chạm tiếp xúc là ăn được rồi. Quỷ thuộc loại xúc thực. Tư thực, chỉ cần nghĩ tới bèn no. Người cảnh trời thuộc tư thực. Thức thực là cả ý nghĩ cũng không cần dùng, vì chuyện ăn uống này xảy ra ở thức thứ tám. Chư thiên ở Tứ Không Thiên thuộc thức thực.
Description: http://i.imgur.com/ThvSogz.jpg
Chúng sanh đều nương vào ăn để sống. Ví như ăn trái cây, mới trên cây hái xuống, nó vốn là hai trái. Ví như một trái táo, nó đơn thuần không phải một trái. Trên mặt trái táo còn có một trái táo khác. Có người nói: “Làm sao tôi không thấy được trái đó?” Nếu quý vị thấy được thời lén ăn mất làm sao! Hai trái táo nầy, trong đó một trái là hình bóng, còn gọi là “TÁNH” của trái táo. Giống như vậy, mỗi cá nhân không phải đơn thuần một con người, mà còn có một linh tánh tùy thân. Nhưng linh tánh của con người ẩn náu bên trong thân thể, không lộ diện. Nếu linh tánh nầy đi ra ngoài, sẽ bị yêu tinh ma quái ăn mất.
Vô luận giống chi biến thành người, phía sau lưng nó vẫn còn lưu cái bóng, gọi cái đó là “quỷ hồn”. Con người có ba hồn bảy vía. Ví như kiếp trước làm ngựa, phía sau lưng có bóng ngựa. Lúc trước sanh làm con lừa, cho đến trâu, dê, gà, heo, chó, dĩ nhiên phía sau lưng đều có bóng của những con nầy. Người đã mở Ngũ Nhãn, nhìn qua là biết ngay: “A! Nguyên lai người nầy kiếp trước là con chó!” Nhưng không phải ai ai cũng đều có thể mở Ngũ Nhãn. Bởi e người ta biết được kiếp trước rồi đem ra xoi bói, cho nên”thiên cơ bất khả lậu”là vậy đó.
Trái cây không phải là động vật, nó không có khí huyết, nhưng nó là một sanh vật. Có sanh mạng là có “tánh”, Ðem trái cây cúng quỷ thần, quỷ thần ăn tánh của hoa quả, quỷ không cầm trái cây cắn vào miệng, nó chỉ cần đụng đến hoa quả là ăn tánh của hoa quả rồi. Do đó trái cây đem cúng quỷ thần, nếu quý vị lấy xuống ăn mùi vị không như trái cây mới hái.
Quê tôi thuộc miền núi ở Ðông Bắc (tức Mãn Châu), có một giống gấu lớn. Nó ăn món gì không cần cắn xé, nó chỉ nuốt trửng thứ đó. Trên núi có giống lê rất cao, gọi là thiết đàn lê, nó cứng lắm. Gấu không cần nhai, chỉ ngoạm một miếng nuốt ngay xuống bụng. Rất là kỳ diệu, khi đại tiện nó cho ra nguyên trái y như hình dáng lúc chưa nuốt, không một chút gì sứt mẻ. Nhưng trái cây nầy không còn mùi vị. Bởi khi trái cây chạy qua xưởng hóa chất (cái bụng con gấu), hệ thống tiêu hóa nầy đã hút hết tinh hoa rồi, cho nên tuy hình tượng vẫn y nguyên, mà tánh đã mất. Từ câu chuyện nầy có thể hiểu được tình hình Phật, Quỷ, Thần ăn trái cây như thế nào. Trái cây đem cúng không nên để lâu vì nó mau hư thối. Cũng giống như con người, lúc sanh thời linh hồn còn trong đó, một mai chết đi, hồn lìa khỏi xác, thi thể rất mau hôi thúi. Trái cây lúc còn sanh tánh không thể chóng hư thối như thế, nhưng khi bị mất đi sanh tánh mới mau hư như vậy.
Trong bốn cách ăn trên, quỷ chỉ cần ngửi một cái, chạm một cái, là đã ăn xong. Không giống như con người chúng ta, phải nhai một miếng rồi chờ chúng xuống bụng, rất là phiền phức. Có người hỏi: “Vì sao thầy biết rõ chuyện như thế?’ Ðiều đó là do kiếp trước tôi từng làm quỷ, nên ngày nay còn nhớ! Quỷ thuộc loại xúc thực, trời người thuộc tư thực, chư thiên ở bốn cõi trời Tứ Không thuộc loại thức thực.
Nghiệp báo của mọi loại quỷ thần đều do nhân duyên sở cảm. Nhân nào, quả nấy. Nên nói: “Khởi hoặc, tạo nghiệp, thọ báo”. Vì vậy phải biết, làm lành phước đi theo, làm ác họa theo đuổi, giống như tiếng vang của âm thanh, chịu khổ cảm lạc, tự mình tạo duyên, chớ có ai khác đâu! Quý vị không muốn làm quỷ, thời không nên tạo nghiệp làm quỷ.
Nam mô A Di Đà Phật..
ST-TTĐ

KHÓC DẠ ĐỀ


KHÓC DẠ ĐỀ

Bạn có thể sử dụng các nguyên liệu dễ kiếm ở xung quanh nhà như cỏ ở bờ giếng, lá tre, lá trà tươi, than củi… để áp dụng một số mẹo chữa trẻ khóc đêm theo kinh nghiệm dân gian sau đây:
Cách 1: Trẻ sơ sinh khóc đêm nhiều có thể dùng cỏ ở bờ giếng, hoặc rơm hay cỏ lót ổ gà đẻ ngầm đặt dưới chiếu nằm không để cho người mẹ biết. Đây là cách chữa mẹo giúp trẻ hết khóc đêm.
Cách 2: Khi trẻ khóc đêm dai dẳng, người mẹ dùng 1 nhúm nhỏ lá trà tươi (chè non), loại lá nhỏ, rửa sạch, nhai nhuyễn, tự tay đặt vào rốn của trẻ, sau đó lấy băng quấn lại.
Cách 3: Một cách chữa trẻ khóc đêm bằng mẹo khác là dùng 1 cây Trúc đùi gà hay còn gọi là Trúc ống điếu, Trúc quan âm, chặt lấy 3 đoạn ngắn đặt lén ở chỗ trẻ ngủ đừng cho ai biết. Trẻ sẽ hết khóc đêm.
Cách 4: Các mẹ cũng có thể dùng hạt bìm bìm khoảng 4 gram, tán nhỏ, hòa với nước, sau đó bôi vào rốn trẻ, làm như vậy cũng giúp trẻ hết chứng khóc đêm. Các bạn có thể hỏi mua hạt bìm bìm ở các cửa hàng thuốc Đông y.
Cách 5: Cách làm này phức tạp hơn những cách làm trên đó là: bạn dùng một cục than củi đặt lên bếp đốt cho cháy, nếu nhà đun bếp củi thì có thể lấy than từ bếp luôn. Khi đã có than thì mang ra cửa nhà cho xúm muối trắng vao than cho cháy nổ lách tách. Nếu nhà có thờ Bồ Tát,thờ Phật thì thắp nhan bàn thờ . Bạn đọc thuộc đoạn kinh này. Sau đó, hơ em bé qua than cách khoảng 50cm (trong khi thực hiện cần cẩn thận cháy vào tã lót) nam 7 nữ 9 Cuối cùng, mang than di xông khắp trong nhà và đọc đoạn kinh đó thành tâm khẫn nguyện cho bé không bị quấy nhiễu, khỏe manh ngoan ngoãn dễ nuôi dễ ăn chóng lớn thông minh...
“ Khể thủ quy y tô tất đế
Đầu diện đảnh, lễ tất cu chi
Ngã kim xưng tán đại chuẩn đề
Duy nguyện từ bi thùy da hộ
Nam Mô tát đã nẫm tam miệu tam bồ đề
Cu chi nẫm tát diệt tha.
Án chiếc lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha!”
Các giải pháp trên chỉ là sưu tầm trong dân gian, không được khoa học xác thực. Xem giải pháp được khuyến cáo bởi Hội Nhi Khoa Châu Âu cho trẻ bị Colic (khóc dạ đề) mời click.
Nếu đã thử tất cả các mẹo chữa trẻ khóc đêm trên mà tình trạng khóc đêm của trẻ không cải thiện thì mẹ có thể cân nhắc việc sử dụng các phương pháp khác như bổ sung lợi khuẩn L.reuteri đã được nghiên cứu lâm sàng khắc phục đáng kể tình trạng khóc đêm ở trẻ.
TTĐ



Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2018

Kinh dịch: Vén bức màn bí mật Dịch học 1


Kinh dịch: Vén bức màn bí mật Dịch học 1

Phong thuỷ thực nghiệm cho đăng loạt bài “Mật mã Kinh Dịch” với mong muốn làm sáng tỏ hơn những bí ẩn trong kinh dịch, đưa ra những bí ẩn chưa hề được công bố ra trước đây, cũng như ý nghĩa của Kinh dịch. Từ khi cổ nhân tìm ra Dịch học cho đến nay chưa có ai có thể lý giải hết bí ẩn cũng như nội hàm trong Kinh dịch.
Bởi lẽ, Kinh dịch có khả năng dự đoán trước được tương lai, vậy là vượt trên kiến thức cũng như tư duy của người thường rất nhiều rồi, nhưng các nhà nghiên cứu Dịch học xưa nay viết về kinh dịch chỉ đưa ra những hiểu biết từ kiến thức của con người mà thôi, mà dùng kiến thức và tư duy của con người thì không thể lý giải kinh dịch được, những điều hiểu được về Kinh dịch từ trước đến nay chỉ ở mức độ con người, còn đạo lý vượt qua con người thì con người trước đây vốn chưa có ai nêu ra.
Chuỗi bài này là những kiến thức và những gì đã được biết từ trước tới nay, cũng như tổng hợp thêm kiến thức và bài viết của các đồng môn vốn hiểu rõ Dịch lý là Thần Quang, Tiểu Nham, Chính Ngộ,..và một số tác giả khác để đưa ra loạt bài này.
Ý nghĩa của Kinh Dịch
Mọi thay đổi nơi thế giới con người đều do thiên tượng biến hóa mà thành, thiên tượng chính là thể hiện của thiên ý, Kinh dịch cho phép con người biết được thiên ý mà hành xử. Khi con người thông qua kinh dịch dự đoán được tương lai thì con người sẽ tin rằng mọi việc chính là đã được an bài trước cả rồi, sự việc kia chưa xảy ra nhưng đã biết trước được sẽ xảy ra như thế. Vậy nên thuận thiên mà làm mới là tốt, mới là hợp với ý trời. Từ đó con người tin rằng có trời đất, thiện có thiện báo, ác có ác báo từ đó tâm tính con người nâng cao lên.
Những danh nhân ngày xưa đều dựa vào thiên ý mà làm thì tất thành, còn như làm trái với thiên ý thì dù có giỏi và tài năng đến đâu cũng không thành. Gia Cát Lượng là một điển hình. Vị quân sư nhà hậu Hán giỏi đến thế đã sớm biết nhà Hán sẽ phải diệt vong, nhưng vẫn ra giúp Lưu Bị nhằm khôi phục nhà Hán. Gia Cát Lượng cũng biết trước rằng đất nước sẽ chia 3, vì thế giai đọan đầu giúp nhà Hán thì Lưu Bị có thế yếu nhất nhưng vẫn giành chiến thắng hết trận này đến trận khác để lên làm vua nước Thục. Nhưng Gía Cát Lượng chỉ làm được đến đây, vì kết cục nhà Hán sẽ phải diệt vong, đó là thiên ý.

Vì thế dù Gia Cát Lượng có tài giỏi đến đâu thì cũng không giúp thêm được gì cho nhà Hán, 7 lần xuất quân ra Kỳ sơn, dù giành thắng lợi lớn nhưng rồi cũng phải rút quân trở về. Dù đã dồn được cha con Tư Mã Ý và châm lửa thiêu cháy đại quân nước Ngụy, nhưng 1 cơn mưa đến kịp lúc đã cứu được cha con Tư Mã Ý, đó chính là thể hiện ngọn lửa tài năng nhiệt huyết của con người không thể thắng được cơn mưa của trời vậy.
Bắt đầu từ Chu Văn Vương thời nhà Chu, Trung Quốc có rất nhiều nhà tiên tri, đều bằng "Kinh Dịch" mà dự đoán biến hóa thiên tượng trong mấy trăm, thậm chí mấy ngàn năm sau. Chẳng hạn «Càn Khôn Vạn Niên Ca» của Khương Tử Nha nhà Chu, «Mã Tiền Khóa» của Gia Cát Lượng thời Tam quốc, «Thôi Bối Đồ» của Viên Thiên Cang, Lý Thuần Phong triều Đường, «Mai Hoa Thi» của Thiệu Ung (hiệu Khang Tiết) triều Tống, «Thiêu Bính Ca» của Lưu Bá Ôn triều Minh, v.v. Những dự đoán của họ đối với đại thiên tượng trong thời đại đặc thù ngày hôm nay đều được lưu truyền trong dân gian.
Thế nhưng con người ngày nay đều xem kinh dịch như một công cụ để xem bói thay đổi đời, nghĩ rằng số mình xấu thế này, nếu đi xem bói có thể cải số được. Thực ra số mệnh con người đã định để trước cả rồi, vậy đi xem bói có thể thay đổi đường đời được không? Kinh dịch có thể biết trước được tương lai nhưng không phải là công cụ để làm cho con người thay đổi số phận của mình. Kinh dịch chính là thể hiện sự tồn tại của trời đất (Thiên tượng), mọi việc nơi thế gian đều do thiên ý tạo thành vậy. Người hiểu biết dùng Kinh Dịch để biết lúc nào "Tiến" và lúc nào "Thoái", thức thời là tuấn kiệt.
Kinh Dịch xuất hiện chính là để con người tìm hiểu Thiên ý, thiên tượng, thiên cơ, thiên tâm. Bởi vì, Thiên ý đã an bài, nên những biến hóa thiên tượng lớn đều được thu nhỏ thành quẻ tượng, hào tượng giản đơn trong «Kinh Dịch»; thiên tượng hiển lộ cho con người, để con người thuận theo Thiên ý. st

Chọn màu cho công ty


Chọn màu cho công ty

Bạn có khi nào nghĩ về việc chọn một gam màu nào đó cho công ty và các sản phẩm do công ty làm ra không?Nhiều nghiên cứu cho thấy việc xây dựng thương hiệu nên bắt đầu bằng cách chọn màu cho logo và các sản phẩm của công ty. Coca-Cola, McDonald, KFC chọn màu đỏ, Pepsi, Samsung, IBM chọn màu xanh.
  Những công ty này hiểu rất rõ việc sử dụng màu sắc thích hợp là yếu tố nền tảng để tạo ra hình ảnh tích cực nơi khách hàng.
Hơn nữa, màu sắc còn đóng vai trò vô cùng lớn trong việc khơi dậy trí nhớ của con người. Chẳng hạn, màu tím hoa sim còn gọi là tím Huế. Màu vàng của hoa mai làm người miền Nam nhớ Tết. Màu hồng nhạt của hoa đào làm người miền Bắc nhớ quê.
Màu sắc còn khơi dậy cho người ta nhiều cảm xúc, nhanh chóng truyền tải thông điệp không giống bất cứ một phương tiện giao tiếp nào. Vì vậy, chọn một màu phù hợp cho công ty là việc làm hết sức quan trọng khi xây dựng thương hiệu.
Màu được chọn, nên trước sau như một, khi xuất hiện trên bất cứ tài liệu quảng bá nào của công ty như logo hay bao bì sản phẩm. Và màu này cũng nên phù hợp với ngành mà công ty đang và sẽ kinh doanh vì gắn với sự hứa hẹn toát lên từ thương hiệu. Ngoài ra, chọn màu cho công ty nên tính đến yếu tố tâm lý.
Những gợi ý dưới đây chỉ để bạn tham khảo.
Màu xanh: cho người ta cảm nhận về sự tin tưởng và tính bảo đảm. Màu xanh khiến người ta liên tưởng đến trời và biển, tạo cảm giác thanh bình và truyền cho người ta sự tin cậy.
Màu đỏ: thường kích thích tuyến yên, làm tăng nhịp đập của tim và khiến người ta thở gấp. Phản ứng nội tạng của cơ thể khi tiếp xúc với màu đỏ khiến người ta năng nổ, mạnh mẽ, dễ bị kích thích. Chọn màu đỏ dễ gây cho người ta một sự đáp ứng say mê, dù không phải khi nào sự đáp ứng này cũng theo hướng thuận lợi.
Ví dụ, màu đỏ thường là biểu hiện của sự nguy hiểm, vỡ nợ. Nhìn chung, người châu Âu không mấy ưa màu đỏ, trái lại, người châu Á coi màu đỏ là may mắn, thể hiện tinh thần quyết thắng.
Màu xanh lá cây: nhìn chung, màu này bao hàm ý nghĩa sức khỏe, tươi mát và êm đềm. Gam màu đậm nhạt cũng có ý nghĩa khác nhau. Chẳng hạn màu xanh lá cây đậm biểu trưng cho sự giàu có và thanh thế. Màu xanh lá cây nhạt thể hiện sự êm đềm.
Màu vàng: cả Đông và Tây đều coi màu vàng tượng trưng cho mặt trời, thể hiện sự lạc quan, tích cực và ấm áp. Ở mức độ đậm nhạt khác nhau tùy người cảm nhận, màu vàng còn thể hiện sự sáng tạo và sinh lực. Mắt người ta thường nhận ra màu vàng trước tiên, vì thế sản phẩm có màu vàng dễ bắt mắt người mua hàng khi đặt trên kệ hàng cùng với các sản phẩm khác.
Màu tím: màu thích hợp để chọn làm thương hiệu cho những sản phẩm thuộc loại mang tính sáng tạo. Pha trộn giữa màu đỏ và xanh, màu tím kích thích điều huyền bí, sự tinh vi, sự coi trọng yếu tố tinh thần và màu tím thường gắn liền với hoàng tộc. Màu tím nhạt kích thích niềm hoài cổ và tính đa cảm.
Màu hồng: tín hiệu phát ra từ màu hồng là sự xúc cảm mãnh liệt. Màu hồng đậm thể hiện sinh lực, sự trẻ trung, vui nhộn và sôi nổi. Màu hồng thích hợp cho các sản phẩm không đắt tiền và có tính thời trang dành cho các bà và các cô. Màu hồng nhạt tạo cảm giác dễ mến, càng nhạt càng lãng mạn.
Màu cam: tạo cảm giác vui vẻ, cởi mở và sức sống. Màu cam trộn giữa đỏ và vàng tạo cảm giác tập thể và thường gắn với tuổi thơ. Nghiên cứu cho thấy màu cam nhạt hấp dẫn với loại hàng hóa dành cho thị trường cấp cao, thích hợp cho dịch vụ y tế, khách sạn và các viện chăm sóc sắc đẹp dành cho phái nữ.
Màu nâu: thể hiện tính mộc mạc, đơn giản, bền bỉ và ổn định. Tuy vậy, màu nâu dễ tạo cho một số người cảm giác thiếu tích cực vì bị cho là không sạch. Màu nâu của gốm tạo cho người ta cảm giác giá trị. Màu nâu liên quan đến màu của đất nên thích hợp cho các loại xe tải và các công ty hoạt động trong ngành công nghiệp.
Màu đen: thể hiện tính nghiêm túc, táo bạo, quyền uy và cổ điển. Màu đen tạo ra kịch tính và sự tinh vi, phù hợp với các sản phẩm đắt tiền nhưng cũng làm cho sản phẩm trông có vẻ nặng nề.
Màu trắng: màu này hàm chứa sự đơn giản, sạch sẽ và tinh khiết. Con mắt người nhận ra màu trắng là màu sáng nên sản phẩm mang màu trắng dễ nổi bật. Màu trắng thích hợp cho các sản phẩm liên quan đến lứa tuổi nhi đồng và liên quan đến sức khỏe.
Để đơn giản, khi bạn chọn các màu trên cho nhãn hiệu của công ty mình, trước tiên nên phân thành hai nhóm cơ bản: màu nóng và màu lạnh (âm hay dương), từ đó đối chiếu với loại hình hàng hóa, dịch vụ của mình mà ra quyết định.
Nhìn chung, màu ấm như đỏ, vàng phát đi tín hiệu mạnh mẽ, trong khi màu trắng, màu xanh thì bình yên và dè dặt. Vì vậy, khi chọn màu lạnh, bạn nên chọn gam màu nhạt để tăng sức mạnh và giảm tính dè dặt do các màu này tạo ra.
Nguồn: Phong Thuy Tong Hop